TÌM HIỂU VỀ TÁC GIẢ NGUYỄN DU

Hệ thống cung cấp kho dữ liệu phân tích tác phẩm và trắc nghiệm chất lượng cao.

Hồ Hoàng Gia

I. GIA THẾ VÀ CỘI NGUỒN: HỘI TỤ TINH HOA BA VÙNG VĂN HÓA

Nguyễn Du có tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên (ngoài ra ông còn có biệt hiệu là Hồng Sơn lạp hộ, Nam Hải điếu đồ). Ông sinh năm Ất Dậu (1765) tại phường Bích Câu, thành Thăng Long (Hà Nội).

Điểm đặc biệt tạo nên chiều sâu văn hóa trong con người Nguyễn Du chính là sự hội tụ tinh hoa của ba vùng đất nức tiếng:

  • Quê nội - Xứ Nghệ (Hà Tĩnh): Ông xuất thân từ làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Đây là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, quê hương của dòng họ Nguyễn Tiên Điền - một "danh gia vọng tộc" lừng lẫy với truyền thống khoa bảng và văn chương. Cha ông là Nguyễn Nghiễm, một sử gia, nhà thơ, đỗ Tiến sĩ khoa Tân Hợi (1731), từng giữ chức Đại tư đồ (Tể tướng) quyền uy tột đỉnh dưới triều Lê - Trịnh.

  • Quê ngoại - Xứ Kinh Bắc: Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, người làng Hoa Thiều, Đông Ngàn, Kinh Bắc (nay thuộc Bắc Ninh). Bà là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm (kém ông 32 tuổi). Quê ngoại là cái nôi của dân ca quan họ mượt mà, đằm thắm, điều này đã gieo vào tâm hồn Nguyễn Du những âm điệu dân gian thấm đẫm tình người ngay từ thuở lọt lòng.

  • Nơi sinh ra và lớn lên - Đất kinh kỳ Thăng Long: Nguyễn Du trải qua tuổi thơ êm đềm ở chốn phồn hoa đô hội, nơi hội tụ giới quý tộc phong kiến và nền văn hóa rực rỡ nhất thời bấy giờ. Anh cùng cha khác mẹ của ông là Nguyễn Khản (từng làm quan Tham tụng) cực kỳ đam mê ca hát, thơ phú. Nhờ đó, Nguyễn Du sớm được tiếp xúc với văn chương và đời sống của các ca nhi, kỹ nữ.

II. CUỘC ĐỜI NHIỀU BIẾN CỐ: TỪ NHUNG LỤA ĐẾN GIÔNG BÃO

Cuộc đời Nguyễn Du chia làm ba giai đoạn gắn liền với sự chuyển giao lịch sử bi tráng của dân tộc (Lê - Trịnh sụp đổ, Tây Sơn nổi lên, Nguyễn sơ thành lập).

1. Tuổi thơ vàng son nhưng sớm chịu bi kịch (1765 - 1785) Sống trong gia đình đại quý tộc, Nguyễn Du bộc lộ sự thông minh, học rộng tài cao. Năm 6 tuổi, ông bắt đầu học chữ Hán, thiên tư xuất chúng. Tuy nhiên, năm 10 tuổi ông mồ côi cha, 13 tuổi mồ côi mẹ, phải đến sống nương nhờ người anh trai Nguyễn Khản. Không lâu sau, kiêu binh nổi loạn, gia đình họ Nguyễn ly tán, Nguyễn Du bắt đầu chuỗi ngày sóng gió.

2. "Mười năm gió bụi" - Thập kỷ phong trần (1786 - 1802) Khi nhà Lê sụp đổ, Nguyễn Du phải về nương nhờ quê vợ ở Quỳnh Côi (Thái Bình), sau đó về quê nội ở Tiên Điền (Hà Tĩnh) và từng có thời gian phải nay đây mai đó lánh nạn.

  • Đây là giai đoạn tăm tối, nghèo đói, ốm đau, sống cảnh "mặt xám, bụi bặm, ăn nhờ ở đậu".

  • Ý nghĩa lịch sử: Chính quãng thời gian nếm trải tận cùng nỗi đau khổ của giới bình dân đã gột rửa đi chất "quý tộc" trong ông, biến ông thành người bạn đồng hành của nhân dân lao động. Trái tim nhân đạo của nhà thơ vĩ đại được phôi thai từ chính giông bão này.

3. Làm quan chốn triều đình và đi sứ (1802 - 1820) Khi Nguyễn Ánh lên ngôi (vua Gia Long) năm 1802, Nguyễn Du bị gọi ra làm quan. Dù chỉ đỗ Tam trường (Tú tài) từ thời Lê, ông vẫn được thăng tiến nhanh chóng, từng giữ chức Hữu Tham tri bộ Lễ, tước Du Đức hầu.

  • Thái độ làm quan của ông vô cùng trầm mặc, u uất. Ông thường giữ thân "bo bo", ít khi mở miệng chốn triều đường vì mang nặng tâm sự của một cựu thần nhà Lê mang nỗi "hoài Lê" và sự bế tắc trước thời cuộc.

  • Đi sứ Trung Quốc (1813 - 1814): Ông được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Chuyến đi mở rộng nhãn quan địa lý, lịch sử và văn hóa, giúp ông tận mắt chứng kiến những bất công xuyên biên giới, từ đó viết nên những áng thơ tuyệt bút.

  • Qua đời: Năm 1820, dưới thời vua Minh Mạng, ông được cử đi sứ lần thứ 2 nhưng chưa kịp đi thì một trận đại dịch bệnh tả khủng khiếp bùng phát ở Huế. Ông nhiễm bệnh và qua đời vào ngày 10/8 năm Canh Thìn (18/9/1820).

III. SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG ĐỒ SỘ VÀ ĐỈNH CAO

Nguyễn Du để lại một di sản văn học khổng lồ, được chia thành hai mảng: Chữ Hán và Chữ Nôm.

1. Sáng tác chữ Hán (Gồm 249 bài thơ, chia làm 3 tập):

  • Thanh Hiên thi tập (78 bài): Sáng tác chủ yếu thời lưu lạc và trước khi làm quan nhà Nguyễn. Thể hiện tâm trạng cô đơn, bế tắc, nghèo túng và xót xa cho thế sự.

  • Nam trung tạp ngâm (40 bài): Sáng tác khi làm quan ở Huế, Quảng Bình. Là nỗi buồn chán chốn quan trường, nỗi nhớ quê hương da diết.

  • Bắc hành tạp lục (131 bài): Sáng tác trên đường đi sứ Trung Quốc. Bức tranh rộng lớn về xã hội Trung Hoa, ngợi ca những anh hùng tiết liệt (Nhạc Phi, Khuất Nguyên), khóc thương cho những kiếp hồng nhan bạc mệnh xứ người (bài thơ Độc Tiểu Thanh kí) và phê phán tầng lớp thống trị tàn bạo.

2. Sáng tác chữ Nôm (Đỉnh cao của văn học Việt Nam):

  • Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh): Gồm 3254 câu thơ lục bát. Dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), nhưng Nguyễn Du đã biến đổi hoàn toàn bằng nghệ thuật tiếng Việt và tư tưởng nhân đạo sâu sắc, biến nó thành kiệt tác số 1 của văn học Việt Nam. Tác phẩm phản ánh chân thực hiện thực xã hội phong kiến tàn bạo và ngợi ca vẻ đẹp, tình yêu, khát vọng tự do của con người.

  • Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn): Bài văn tế viết bằng thể song thất lục bát (184 câu). Đây là đỉnh cao của lòng từ bi (mang âm hưởng Phật giáo), khóc thương cho mười loại người bất hạnh, vất vưởng trong xã hội, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em và người nghèo đói.

  • Ngoài ra còn có Thác lời trai phường nón, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, mang đậm màu sắc ca dao, dân ca.

IV. PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ TƯ TƯỞNG CỐT LÕI

1. Chủ nghĩa nhân đạo bao la (Chữ TÂM là gốc): Tư tưởng của Nguyễn Du vượt qua những giáo lý Nho giáo thông thường để chạm tới giá trị cốt lõi là tình yêu thương con người.

  • Ông đặc biệt xót xa cho thân phận người phụ nữ (Tài mệnh tương đố - Tài hoa thì bạc mệnh): "Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung".

  • Ông là người đầu tiên trong văn học trung đại lên án mãnh liệt thế lực của đồng tiền đã làm tha hóa nhân cách, chà đạp lên công lý và quyền sống của con người.

2. Bậc thầy về ngôn ngữ tiếng Việt: Nguyễn Du đã đưa tiếng Việt (chữ Nôm) đạt đến độ tinh tế, hoàn hảo, vừa uyên bác, cổ điển (dùng điển cố điển tích chuẩn xác) vừa mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân.

3. Đỉnh cao nghệ thuật khắc họa nội tâm nhân vật:

  • Ông là người khai mở nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật sắc sảo thông qua ngôn ngữ đối thoại, độc thoại nội tâm.

  • Bút pháp "tả cảnh ngụ tình" đạt đến mức trác tuyệt (Thi trung hữu họa - Trong thơ có họa): "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu / Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Không gian và thời gian trong thơ Nguyễn Du luôn đồng điệu với nhịp đập tâm hồn nhân vật.

V. DI SẢN VÀ SỰ TÔN VINH CỦA NHÂN LOẠI

  • Tầm vóc quốc tế: Những giá trị nhân văn trong tác phẩm của Nguyễn Du mang tính toàn nhân loại. Năm 1965, Hội đồng Hòa bình Thế giới đã tổ chức kỷ niệm 200 năm sinh của ông. Đặc biệt, năm 2013, Đại hội đồng UNESCO đã vinh danh Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới.

  • Sức sống mãnh liệt trong lòng dân tộc: Truyện Kiều đã đi vào đời sống dân gian một cách tự nhiên thông qua các hình thức sinh hoạt văn hóa độc đáo như lẩy Kiều, bói Kiều, đố Kiều. Học giả Phạm Quỳnh từng có một câu đúc kết bất hủ khẳng định giá trị vĩnh hằng của tác phẩm và tác giả: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn."

Bình luận