Đăng trong Tháng Mười Hai 1, 2023 bởi Trần Đình Sử
(gốc tiếng La Tinh: conceptus, conceptio, nghĩa là tư tưởng, quan niệm)
Trần Đình Sử
Còn gọi là quan niệm có tính thơ, cái nhìn nghệ thuật. Cách giải thích đời sống và các vấn đề của nó bằng chính thế giới nghệ thuật (hình tượng, nhân vật, cốt truyện, miêu tả, thể loại, ngôn ngữ), thể hiện cách hiểu, cách cảm, đánh giá của chủ thể nghệ thuật đối với thế giới hình tượng trong một tác phẩm hay toàn bộ sáng tác của một tác giả, trào lưu hay cả giai đoạn văn học. Quan niệm này chỉ tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật. Khác với đề tài, chủ đề như những vấn đề nội dung của tác phẩm mà người đọc thường lược quy cho dễ hiểu, quan niệm nghệ thuật thể hiện trước hết quan niệm vĩ mô của tác giả trong tư duy về con người, thế giới, không gian, thời gian, thiên nhiên, đồ vật, có tác động chi phối đến sự tư duy và miêu tả toàn bộ thế giới nghệ thuật cụ thể. Do đó quan niệm nghệ thuật thể hiện sâu săc và toàn diện hơn tính quan niệm của nhà văn đối với thế giới. Ứng với một thế giới nghệ thuật thì có một quan niệm nghệ thuật gắn chặt với nó. Quan niệm vĩ mô này có tính thế giới quan và liên hệ mật thiết với các học thuyết triết học, tôn giáo, xã hội học,chính trị học, tâm lí học của thời đại, nhưng không đồng nhất với chúng, bởi vì nó liên hệ mật thiết với kinh nghiệm sống độc đáo của tác giả và thể hiện thành hình thức nghệ thuật cảm tính trong trí tưởng tượng sáng tạo, gắn liền với cảm thức đạo đức và thẩm mĩ cũng như các mẫu cổ nguyên sơ và các mẫu cổ của hình thức nghệ thuật. Quan niệm nghệ thuật không phải là khái niệm trừu tượng, mà thể hiện trong nhận thức cảm tính và thường là ở cấp độ vô thức, chỉ có qua phân tích nghiên cứu mới có thể nhận biết được. Quan niệm nghệ thuật vì thế, cho ta biết sâu hơn về chiều kích tư tưởng, văn hóa, thẩm mĩ trong sáng tác của tác giả hoặc cộng đồng tác giả so với khái niệm chủ đề, đề tài.
Quan niệm nghệ thuật của tác phẩm văn học có thể quy thành một cấu trúc logic hoặc một mô hình nghệ thuật của hình tượng (đối lập thiện ác, các mối xung đột, quan hệ nhân quả, kết thúc có hậu, tính cách tự phát triển, cấu trúc mở…). Quan niệm nghệ thuật cũng thường được phân tích thành các yếu tố liên quan nhau như quan niệm nghệ thuật về con người, nhân cách, quan niệm nghệ thuật về thế giới, không gian, thời gian, về thiên nhiên, đồ vật… Trong quan niệm nghệ thuật, quan niệm về con người là yếu tố quan trọng nhất, bởi con người là đối tượng cơ bản của văn học. Các trào lưu tư tưởng triết học của thời đại có ảnh hưởng to lớn đến các kiểu quan niệm nghệ thuật trong sáng tác trong các thời đại đó, song sức sáng tạo đột phá của các cá tính sáng tạo vẫn có giá trị không nhỏ. Nhân vật Thúy Kiều của Nguyễn Du ngoài những nét của con người của văn học trung đại như con người vũ trụ, ý thức định mệnh, nhưng đã không còn “nhất phiến”, mà đã thể hiện con người tâm lí với những phức hợp tâm lí, những tình cảm đối nghịch, một giới hạn rộng rãi nhất, bao gồm những tình cảm cao thượng nhất đến những biểu hiện tầm thường nhất, con người chấp nhận sự tha hóa. Chính cái quan niệm nghệ thuật ấy đã làm cho Truyện Kiều trở thành kiệt tác. Có người đã vận dụng quan niệm nghệ thuật về thế giới và con nguồi để chỉ ra những đổi thay trong quá trình văn học của nhân loại. Chẳng hạn nhìn riêng tiến trình văn học châu Âu, theo nhà nghiên cứu Nga Ju. Borev, thời cổ đại con người sống trong thế giới của hài hòa và số phận; thời trung đại con người sống trong sự gắn kết với chúa trời; thời phục hưng con người sống trong hy vọng và ảo tưởng, con người được tự do mà ác quỷ cũng được tự do. Thời cận đại với chủ nghĩa cổ điển: con người hi vọng vào nghĩa vụ, chuẩn mực và lí trí; với chủ nghĩa cảm thương và chủ nghĩa lãng mạn: con người hi vọng và tình cảm; Từ thế kỉ XIX bắt đầu thời tiền hiện đại, thế giới thù địch với con người: với chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa ấn tượng con người tan vỡ mọi hi vọng, trần trụi trong tự nhiên hoặc trong biểu tượng mơ hồ; đến thời chủ nghĩa hiện đại, lịch sử chuyển động nhanh và gia tăng áp lực lên con người: thế giới trong ánh sáng của hoàng hôn: con người bị giản lược trong nhiều chiều cạnh (chủ nghĩa nguyên thủy, chủ nghĩa lập thể, chủ nghĩa dã thú…), Thời kì tân hiện đại con người không chịu nổi áp lực và bị tha hóa: với chủ nghĩa đa đa thế giới vô nghĩa và điên loạn; với chủ nghĩa siêu thực, con người bối rối trong thế giới bí ẩn, không thể nhận thức; với chủ nghĩa hiện sinh con người cô đơn trong thế giới phi lí; với văn học dòng ý thức thế giới tinh thần con người mất liên hệ với thực tại. Thời hậu hiện đại con người thành hậu nhân loại: Tuy nhiên từ thế kỉ XIX với chủ nghĩa hiện thực, con người tuy đau khổ, bị mất mát, những vẫn đứng vững (chủ nghĩa hiện thực phê phán, chủ nghĩa hiện thưc xã hội chủ nghĩa);với chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (chủ nghĩa hiện đại hóa) con người đi tìm hi vọng mới.
Có thể nhận thấy, quan niệm nghệ thuật có ý nghĩa trong việc xác định giới hạn và khung nhận thức trong việc biểu hiện con người và thế giới trong văn học.
Tài liệu tham khảo: 1. Эстетика: Словарь. — М.: Политиздат. Под общ. ред. А. А. Беляева. 1989; 2.
Павлов Ю.М. Художественная концепция личности в русской и русскоязычной литературе ХХ века: М.: ИМЛИ РАН, 2004. 3. Phan Ngọc. Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1985; 4. Trần Đình Sử. Thi pháp Truyện Kiều, Nxb Giáo dục, Hà nội, 2002; 5. Ju.. Borev,. Teoрия литературы, Т. 4, Литературный процесс, Москва, Имли Ран “Наследие” 2001.
