(tiếng Anh: artistic speech/discourse; tiếng Pháp: discours litteraire; tiếng Nga: художественная речь, Поэтический язык)
1.Một dạng đặc thù trong các ngôn ngữ văn hóa của nhân loại, bên cạnh ngôn ngữ tôn giáo và ngôn ngữ khoa học. Trong văn hóa loài người ngôn ngữ thơ, hay là ngôn từ của tác phẩm nghệ thuật phân biệt với ngôn ngữ viết (ngôn từ khoa học, ngôn từ diễn thuyết, chính luận, ngôn từ hành chính) và lời nói thường ngày, mà cội nguồn của chúng là các phạm vi văn hóa khác nhau :sinh hoạt, vật chất và đời sống tinh thần. 2.Hình thức của tác phẩm văn học, là ngôn ngữ được tổ chức thành tác phẩm văn học.
Lời văn nghệ thuật của tác phẩm văn học còn gọi là ngôn từ nghệ thuật, ngôn ngữ có chất thơ hay ngôn ngữ tác phẩm văn học. Lời văn nghệ thuật là ngôn ngữ của tác phẩm văn học, như thơ, tiểu thuyết, kịch, văn xuôi, kí…một thứ ngôn ngữ có tổ chức chặt chẽ nhất và mang nhiều ý nghĩa nhất. Đó là dạng ngôn ngữ viết không chỉ ra đối tượng bên ngoài tồn tại trước nó, mà sáng tạo ra đối tượng bằng cách chỉ ra nó một cách gián tiếp, có sử dụng các quy tắc, thủ pháp nghệ thuật, theo phong cách, bút pháp cá nhân, phù hợp với đặc trưng thể loại, chấp nhận sự lệch chuẩn, có giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ, khác với ngôn ngữ nói hàng ngày và ngôn ngữ viết thông thường, cũng khác với ngôn ngữ dưới dạng cấu trúc trừu tượng, cho nên để tránh nhầm lẫn, gọi là “lời văn” nghệ thuật. Về bản chất kí hiệu học, lời văn nghệ thuật cũng là một dạng ngôn ngữ giao tiếp, khác với ngôn ngữ tự nhiên là nó đã được tái mã hóa, có tính chất đục mờ do tính mơ hồ, đa nghĩa của nó. Mặc dù khác biệt, nhưng lời văn nghệ thuật thu nạp trong mình tất cả các yếu tố của các dạng lời nói khác nhau nhất của đời sống, như từ cổ, tiếng lóng, từ đời thường, từ kĩ thuật, tiếng địa phương, từ nghề nghiệp… sau khi đã biến chúng thành hiện tượng nghệ thuật. Theo ý kiến của V. N. Voloshinov (Bakhtin) thì cấu trúc của phát ngôn nghệ thuật phụ thuộc vào : 1.Trật tự giá trị của nhân vật hay sự kiện được coi là nội dung của phát ngôn; 2. Mức độ gần gủi của nhân vật, sự kiện đối với tác giả (người kể chuyện) ;3.Mối quan hệ qua lại giữa người đọc và tác giả và với nhân vật. Tất cả các yếu tố đó đều là điểm nhấn của lực lượng xã hội của hiện thực ngoài văn học đối với văn học. Lựa chọn nội dung hay hình thức thì cũng là một hành vi như nhau nhằm xác lập lập trường cơ bản của người sáng tác, và trong đó thể hiện cùng một đánh giá có tính xã hội. (Voloshinov). Đặc trưng của lời văn nghệ thuật là loại lời gián tiếp, có tính phi tác giả. Nhà văn không thể hiện trực tiếp lời của mình vào tác phẩm, hay nói cách khác, nhà văn câm nín (N. Frye), im lặng (P. Macherey) trong tác phẩm của mình. Lời văn nghệ thuật có chức năng diễn tả, biểu hiện, miêu tả các đối tượng mà nó thể hiện trong tác phẩm. Lời nói của nhân vật là một bộ phận của hình tượng nhân vật. Nó có tính mơ hồ, đa nghĩa, và có tính lệch chuẩn, so với các dạng ngôn ngữ khác.
Thời cổ đại Lời văn nghệ thuật là một lối văn riêng khác lời ăn tiếng nói hàng ngày ví như lời của các sử thi. Aristote đã nói đến tính mô phỏng đối tượng của ngôn ngữ, đồng thời ông cũng nói đến ngôn ngữ biểu đạt những đối tượng tưởng tượng, khả nhiên trong tâm trí, mở đầu cho quan niệm ngôn ngữ có tính ý hướng hay thế giới khả thể sau này. Thời trung đại ngôn ngữ gắn với đặc điểm thể loại văn học. Trong các ngôn ngữ đơn lập ngoài văn xuôi và thơ còn có văn biền ngẫu. Quan niệm cổ điển của văn luận Trung Quốc cho rằng lời văn phải đẹp (lệ), biểu hiện được nội dung (đạt) và phù hợp với sự cảm thụ trong tâm hồn (thành), đồng thời phù hợp ý hệ phong kiến “ôn nhu đôn hậu”, “tư vô tà”. Cuối thế kỉ XIX các nhà thi pháp Nga đã nói đến các đặc trưng thường tại của lời văn nghệ thuật. Đầu thế kỉ XX người ta liên hệ ngôn ngữ văn học với phong cách cá tính của tác giả và trào lưu văn học nhằm sáng tạo ra những thế giới khả thể.
Lời văn nghệ thuật là lời của các chủ thể hư cấu tham gia vào tác phẩm như là một giao tiếp nghệ thuật, như chủ thể trữ tình, các loại người kể chuyện, các loại nhân vật của tác phẩm văn học. Đó là những hình tượng sống động trong tưởng tượng. Đơn vị của lời văn nghệ thuật không phải là câu, mà là các phát ngôn mang đầy tính chủ thể, quan niệm về thế giới, lí trí, tình cảm, tâm trạng và sức mạnh tinh thần của những nhân vật thuộc các dân tộc và thời đại khác nhau. Toàn bộ lời văn đều hướng tới biểu hiện cái cách mà nhân vật con người cảm nhận về thế giới. Đặc điểm của lời văn nghệ thuật cụ thể phụ thuộc vào thế giới sáng tạo và cá tính của các tác giả (nhà văn), tính cách nhân vật và quy tắc nghệ thuật của thời đại.
Lời thơ là dạng đặc thù nhất của ngôn ngữ nghệ thuật với tổ chức theo từng dòng thơ, ngắn dài khác nhau, có số chữ nhất định, có hiệp vần ở các vị trí nhất định, có xen nhau các tiếng bằng trắc, hoặc các âm tiết dài ngắn, trọng âm và không trọng âm để tạo thành nhịp điệu. Lời thơ sử dụng dày đặc các phép tu từ, nhất là ẩn dụ, so sánh, liên tưởng, đưa người đọc vào thế giới của suy tưởng, chiêm nghiệm, tưởng tượng vừa cụ thể vừa trừu tượng. Văn bản thơ không tuân thủ các quy tắc ngữ pháp thông thường như xuống giòng, viết hoa.
Trong văn xuôi hiện đại, phần nhiều lời người kể chuyện và lời của nhân vật không phải tách rời mà có thể hòa nhập với nhau trong các loại lời nửa trực tiếp, độc thoại nội tâm, lời nói ngoài và lời độc thoại, đặc biệt là lời mỉa mai (Irony), nhại (Parody), tạo thành lời văn đa thanh, phức điệu, nghịch dị, và do đó, ngữ nghĩa nói chng không tường minh. Lời nhân vật có thể thoát khỏi dẫn ngữ của người kể chuyện để thành trực tiếp tự do. Người ta cũng không sử dụng các dấu ngắt, dấu chấm câu, khiến cho văn bản thành một chuỗi dài các từ ngữ mà người đọc phải tự xử lí để tiếp nhận. Văn bản có tính chất gần với trò chơi, với các kí hiệu biểu đạt.
Trong lí thuyết văn học hiện đại lời văn nghệ thuật được hiểu như là một kiểu diễn ngôn văn học, thứ diễn ngôn không chỉ chịu quy định của quy tắc ngôn ngữ, xã hội, mà quan trong hơn, chịu quy định của các quy tắc nghệ thuật, một nghệ thuật lúc nào cũng muốn nói lên tiếng nói, tạo tiếng nói của những vấn đề đang câm nín, đang chìm vào vô thức xã hội. Do nói được những điều thiết tha, thầm kín của con người đang muốn nói tới, lời văn nghệ thuật tạo nên niềm khoái cản vô biên cho người đọc. Khi các vấn đề nói ra đã trở thành quen thuộc, thì văn học đòi hỏi những diễn ngôn mới xuất hiện, thay thế cho diễn ngôn cũ. Do đó, diễn ngôn văn học không ngừng thay đổi.
Tài liệu tham khảo: 1.Aristote, Bàn về nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn học, Trung tâm ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 1999; 2. Виноградов В. В. О языке художественной литературы. М., 1959; он же. О теории художественной речи. 2-е изд. М., 2005;3. Ларин, Б. А. О лирике как разновидности художественной речи. (Семантические этюды) // Ларин, Б. А. Эстетика слова и язык писателя. Л., 1974; 4. Литературный энциклопедический словарь, М., 1987. 5.V. N. Voloshinov, Chủ nghĩa Mác va triết học ngôn ngữ, Ngô Tự Lập dịch, Nxb ĐHQG, Hà Nội, 2015.
