DIỄN TỪ NOBEL VĂN HỌC 1980 CZESLAW MILOSZ - DIỄN VIÊN NOBEL

Hệ thống cung cấp kho dữ liệu phân tích tác phẩm và trắc nghiệm chất lượng cao.

Hồ Hoàng Gia


TÔI

Sự hiện diện của tôi trên đài tưởng niệm này nên là một bài thảo luận cho tất cả những ai ca ngợi sự không thể mong đợi trước, phức tạp một cách kỳ diệu, của cuộc sống mà Chúa ban cho. Thời gian còn đi học tôi từng đọc các cuốn sách của một bộ sách xuất bản ở Ba Lan khi đó—“Thư viện các giải mã giải Nobel.” Tôi vẫn nhớ dạng chữ và giấy màu. Khi đó tôi hình dung giải Nobel là các nhà văn, tức là những người viết những tác phẩm dày dặn bằng văn xuôi, và ngay cả khi tôi biết trong số đó cũng có những nhà thơ, một thời gian dài tôi vẫn không thể bỏ qua quan niệm ấy. Và chắc chắn, khi tôi đăng những bài thơ đầu tiên trong tập san ở trường đại học, Alma Mater Vilnensis , năm 1930, tôi đã không khao khát danh hiệu nhà văn. Rất lâu sau này, bằng cách chọn sự độc và thân thân vào một nghề kỳ lạ, đó là làm thơ bằng tiếng Ba Lan trong khi sống ở Pháp hoặc Mỹ, tôi đã cố gắng duy trì một hình ảnh lý tưởng nhất định về một nhà thơ, người mà nếu muốn nổi tiếng thì anh ta chỉ muốn nổi tiếng ở ngôi làng hay thị trấn nơi sinh.

Tôi tin là một trong những người giàu giải Nobel mà tôi đã đọc thời thơ ấu đã ảnh hưởng đến những quan niệm của tôi về thơ. Đó là Selma Lagerlöf. Những cuộc phiêu lưu kỳ thú của Nils , một cuốn sách tôi yêu thích, đặt nhân vật chính vào một vai kép. Cậu là người bay trên Trái đất và nhìn nó từ trên cao nhưng đồng thời cũng nhìn thấy nó trong từng chi tiết. Cái nhìn đôi này có thể là một ẩn dụ về thiên chức của nhà thơ. Tôi tìm thấy một ẩn dụ tương tự trong một bài tụng ca tiếng Latin của một nhà thơ thế kỷ 17, Maciej Sarbiewski, người từng được biết đến ở châu Âu dưới bút danh Casimire. Ông giảng dạy pháp này ở trường đại học của tôi. Trong bài tụng ca ấy ông mô tả chuyến đi—trên lưng Pegasus—từ Vilno đến Antwerp, nơi ông đến thăm các bạn nhà bè thơ. Như Nils Holgersson, ông cũng thấy dưới mình là những người sông, hồ, rừng, một tấm bản đồ xa xôi vừa cụ. By vậy, hai thuộc tính của nhà thơ: con mắt ham mê và ham muốn mô tả. Tuy nhiên, bất cứ ai coi thơ là “thấy và mô tả” nên biết rằng anh ta đang tham gia vào một cuộc tranh cãi với tính hiện đại, bị cuốn hút bởi vô số thuyết về một ngôn ngữ thơ cụ thể.

Nhà thơ nào cũng phụ thuộc vào các thế hệ viết bằng tiếng mẹ đẻ của anh ta; anh ta kế hoạch nhiều phong cách và hình thức mà những người đi trước xây dựng. Đồng thời, anh ta cũng cảm thấy những phương tiện truyền đạt cũ không phù hợp với kinh nghiệm của chính mình. Khi thích nghi, anh ta nghe thấy một giọng nói bên trong cảnh báo về chiếc mặt nạ và sự ngụy trang. Nhưng khi nổi dậy, anh ta lại rơi vào tình trạng phụ thuộc vào những người cùng thời, nhiều phong trào khác nhau của nhóm tiên phong. Than ôi, chỉ cần xuất bản tập thơ đầu là đủ, thấy mình bị mắc kẹt. Bởi mực còn chưa sẵn thì tác phẩm ấy, đối với anh ta là riêng tư nhất, đã có vẻ hoang dã về phong cách của một người khác. Cách duy nhất để chống lại một cảm giác Một mùi tiếc mơ tiếp tục tìm kiếm và cho ra đời một cuốn sách mới, nhưng sau đó mọi thứ lặp lại và cuộc rượt đuổi đó không có hồi kết. Và có thể xảy ra trường hợp bỏ lại những cuốn sách đằng sau như những tấm rắn khô, để không ngừng thoát khỏi những gì đã làm trong quá khứ, anh ta đã được giải Nobel.

Điều gì là xung lực bí ẩn không cho phép người ta ổn định trong cái đã đạt được, đã hoàn thành? Tôi nghĩ đó là một cuộc tìm kiếm thực tế. Tôi cho từ này một ý nghĩa ngây thơ và trang béo, không liên quan gì đến các cuộc tranh luận dưỡng học trong một số thế kỷ qua. Đó là Trái Đất mà Nils nhìn từ thắt lưng con trang và giả của bài tụng ca tiếng Latin nhìn từ thắt lưng con Pegasus. Chắc chắn, Trái đất hiện hữu và không có mô tả nào có thể làm cạn kiệt sự giàu có của nó. K khẳng định như vậy là bác bỏ trước một câu hỏi thường thấy ngày nay: “Thực tế là gì?”, bởi nó giống như câu hỏi của Pontius Pilate: “Đúng thật là gì?” Nếu như trong các cặp đối lập mà chúng ta dùng hàng ngày, đối lập giữa sự sống và cái chết có tầm quan trọng bao nhiêu thì đối lập giữa chân và giả, giữa thực tế và ảo tưởng cũng không kém phần quan trọng.

II

Simone Weil, người mà tôi mắc nợ các tác phẩm của bà, nói: “Khoảng cách là linh hồn của cái đẹp.” Song có những lúc làm việc giữ khoảng cách gần như không thể. Tôi là một “ Ôi con của châu Âu ,” như nhân chủ đề một bài thơ của tôi thừa nhận, nhưng đó là một sự thừa nhận cay đắng, châm biếm. Tôi cũng là tác giả một cuốn tự truyện có nhân đề trong bản dịch tiếng Pháp là Un autre Europe . Chắc chắn, có hai châu Âu và tình cờ chúng tôi, những cư dân của châu Âu thứ hai, được định sẵn phải đi xuống “giữa lòng bóng tối” của thế kỷ 20. Tôi không nói được về thơ nói chung. Tôi phải nói về thơ trong cuộc gặp gỡ của nó với các hoàn cảnh thời gian và địa điểm đặc biệt. Ngày nay, từ một góc nhìn nào đó, chúng tôi có thể nhận ra đường nét rõ ràng của các sự kiện phạm vi chết của chúng tôi đã vượt qua mọi thiên tai mà chúng tôi từng biết đến, nhưng thơ, của tôi và của những người cùng thời, dù thuộc phong cách kế thừa hay tiên phong, đã không được chuẩn bị để đối phó với những bức họa đó. Như người mù chúng tôi mò mẫm đi và tiếp tục xúc động với tất cả những cảm xúc mà tâm trí sẽ lấy đó để tự lừa mình trong thế kỷ này.

Không dễ phân biệt thực tế với ảo tưởng, nhất là khi một người sống trong thời kỳ biến động bắt đầu một vài thế kỷ trước trên một bán đảo nhỏ phía tây lục lục địa Âu-Á, để rồi bao trùm toàn bộ hành tinh trong một đời người bằng tôn thờ đồng nhất đối với khoa học và công nghệ. Và đặc biệt khó chống lại vô số cám dỗ trí tuệ ở những khu vực châu Âu nơi ý tưởng thoái hóa về quyền thống trị con người, giống như ý tưởng về quyền thống trị tự nhiên, đã dẫn đến sự phát âm của các cuộc cách mạng và chiến tranh với giá là hàng triệu con người được acardi có thể xác thực hoặc tinh thần. Song có thể là sự tiếp theo thu quý nhất của chúng ta ta không phải là hiểu biết về những ý tưởng này, mà chúng ta đã chạm vào hình dạng hữu hình nhất của chúng ta, mà là sự tôn sùng tôn trọng và biết ơn đối với những điều tốt nhất đã bảo vệ con người khỏi sự tồn tại nội bộ và phục tùng trước chế độ chuyên sâu. Chính vì thế mà một số lối sống, một số thể chế đã trở thành mục tiêu cho sức mạnh nội bộ của các thế lực tà tà, trên hết là mối liên kết giữa con người tồn tại một cách hữu cơ, như thể tự thân, được duy trì bởi gia đình, tôn giáo, làng xóm, di sản chung. Nói cách khác, toàn bộ các loài vô trật tự, phi logic, thường bị coi là lố bịch vì những lực lượng cần thiết và trung thành mang tính địa phương của nó. Ở nhiều quốc gia, các mối đe dọa truyền thống của các công dân đã tăng dần một và cư dân của họ bị mất quyền thừa kế mà không được nhận ra. Song điều đó không đúng với các khu vực mà đột nhiên, trong một tình huống vô cùng nguy hiểm, cái giá trị bảo vệ, mang lại sự sống của những mối sát cánh như thế tự động bộc lộ mình. Đó là trường hợp của quê hương tôi. Và tôi cảm thấy đây là nơi thích hợp để nhanh chóng nhận những món quà mà tôi và bạn bè tôi ở vùng châu Âu mà chúng tôi đã nhận được và để nói lên những lời chúc phúc.

Thật tốt khi được sinh ra ở một đất nước mô nhỏ bé nơi Tự nhiên ở quy con người, nơi có nhiều ngôn ngữ và tôn giáo đã chung sống qua nhiều thế kỷ. Tôi nghĩ đến Litva, một vùng đất nước của thần thoại và thơ ca. Gia đình tôi từ thế kỷ 16 đã nói tiếng Ba Lan, cũng như nhiều gia đình ở Phần Lan nói tiếng Thụy Điển và ở Ireland nói tiếng Anh; vì vậy tôi là một nhà thơ Ba Lan, không phải một nhà thơ Litva. Nhưng phong cảnh và có lẽ cả những tâm hồn của Litva vẫn chưa bao giờ bỏ tôi. Thật tốt khi còn nhỏ được nghe những lời phục vụ tiếng Latin, được dịch Ovid ở trường trung học, được học hành bài bản về các giáo điều và biện giải Công giáo La Mã. Thực sự là một điều may mắn được nhận từ số phận sự học hành ở các ngôi trường và trường đại học ở một thành phố như Vilno. Một thành phố kỳ lạ với ba rốc kiến ​​trúc được tranh đấu với các cánh rừng phía Bắc và lịch sử được cố định ở từng Bước đá, một thành phố với bốn mươi nhà thờ Công giáo La Mã và vô số đường Do Thái. Ngày ấy người Đỗ Thái gọi nó là Jerusalem của phương Bắc. Chỉ khi giảng dạy ở Mỹ tôi mới hiểu được bao nhiêu điều đã kinh khủng trong tôi từ những bức tường dày của cộng thức luật La Mã phải học thuộc lòng, từ lịch sử và văn học Ba Lan, cả hai đều là những người Mỹ trẻ tuổi ngạc nhiên bởi những cú đánh: một tình trạng vô chính phủ thả, sự hài hước, giải quyết những cuộc cãi vã đồng tính, ý thức về một cộng đồng cổ cơ, sự thật không tin tưởng vào bất cứ cơ sở tập trung nào.

Một nhà thơ lớn lên trong một thế giới như vậy có lẽ phải là một người tìm kiếm thực tế thông qua trải nghiệm. Một trật tự gia trưởng may ra phải là thân thương đối với anh ta, một chuông chuông, một cách ly khỏi những áp lực và những đòi hỏi dai của đồng loại, sự tĩnh lặng của một tu viện phòng. Nếu sách nằm trên bàn thì nó phải là thứ thứ liên quan đến sản phẩm chất khó hiểu nhất của thứ do Chúa tạo ra, ấy là hữu thể, yếu tính. Nhưng đột nhiên tất cả những điều này đều được phủ nhận bởi ác quỷ hành động của Lịch sử, thứ có được những đặc điểm của một vị trí khát máu. Trái đất mà nhà thơ đã nhìn thấy trong chuyến bay của mình gọi với lên bằng một tiếng kêu từ vũ trụ sâu và không được phép nó được nhìn từ trên cao. Một tình trạng ổn định không thể giải quyết hiện tại, một tình trạng ổn định tăng cường, tốc độ cả ngày, dù họ gọi nó là gì, đó là tình trạng ổn định giữa hiện hữu và hành động, hay, ở một mức độ khác, vững chắc giữa nghệ thuật và tình huống kết hợp với loại đồng. Thực tế Đòi một cái tên, Đòi lời, nhưng nó không chịu đựng được và nếu chúng ta có thể chạm vào nó, nếu nó đến rất gần, miệng nhà thơ thậm chí còn không thể nói ra một lời khuyên hơn phiền muộn của Job: toàn bộ hành động nghệ thuật hóa ra ý là gì với động động. Song để nắm bắt thực tế theo cách lưu giữ được nó trong tất cả các tật rối rắm xưa của thiện và ác, của tuyệt vọng và hy vọng thì chỉ có thể nhờ vào khoảng cách, bằng cách vượt lên nó—nhưng điều này lại có vẻ là một sự phản bội bội đạo đức.

Đó là sự ổn định ở cốt lõi của các cuộc xung đột thế kỷ 20 và được các nhà thơ của một trái đất bị nhiễm độc bởi thuốc diệt chủng phát hiện ra. Đâu là những suy nghĩ của một người trong số họ, người đã viết một số bài thơ nhất định mà họ còn ở lại như một đài tưởng niệm, như một chứng tích? Anh ta nghĩ chúng ta sinh ra từ một tình trạng đau đớn dai dẳng và anh ta muốn có thể giải quyết nó mà những bài thơ kia không cần thiết phải viết ra.

III

Một vị thánh bảo trợ cho tất cả các nhà thơ lưu vong, những người chỉ về thăm quê hương trong hồi ức, vẫn luôn là Dante. Nhưng đã có bao nhiêu Florence kể từ đó! Sự lưu lại một nhà thơ ngày nay là một chức năng đơn giản của một khám phá tương đối gần đây: rằng bất cứ ai nắm trong tay quyền lực cũng có thể kiểm soát ngôn ngữ, không chỉ sử dụng lệnh cấm kiểm tra mà còn bằng cách thay đổi ý nghĩa của từ. Một hiện tượng đặc biệt xuất hiện: ngôn ngữ của một cộng đồng bị giam cầm bắt đầu có những thói quen lâu bền nhất định; Toàn bộ khu vực thực hiện không tồn tại đơn giản bởi vì chúng không có tên. Đường như có một mối liên hệ giữa các lý thuyết về văn học như là Écriture , về tiếng nói tự nuôi sống nó, với sự lớn mạnh của nhà nước toàn trị. Dù sao đi chăng nữa, cũng không có lý do gì mà nhà nước lại không dung thứ cho một hoạt động bao gồm công việc sáng tác thơ và văn xuôi “thử nghiệm,” nếu họ được xem như những hệ quy chiếu tự trị, kín đáo trong giới hạn riêng của họ. Chỉ khi chúng tôi cho rằng một nhà thơ không ngừng nỗ lực giải phóng mình khỏi những phong cách vay mượn để tìm kiếm thực tế thì anh ta mới nguy hiểm. Trong căn hộ mà mọi người nhất trí duy trì một âm thầm im lặng thì một lời nói thật nghe như tiếng súng. Và hơn ôi, cảm xúc nói ra nó, như cơn thịnh nộ, trở thành một nỗi buồn ảnh không cho người ta nghĩ đến điều gì khác. Đó là lý do nhà thơ chọn lưu vong nội hoặc ngoại. Tuy nhiên, không thể chắc chắn rằng anh ta được cung cấp hoàn toàn bởi mối quan tâm đối với thực tế. Anh ta cũng có thể mong muốn thoát khỏi mình khỏi nó và ở một nơi khác, ở những quốc gia khác, những biển biển khác, muốn lấy lại, ít nhất là trong chốc lát, ơn gọi thực sự của anh ta—đó là ngưỡng hiện hữu.

Hy vọng ấy là viển vông, đối với những người đến từ “châu Âu khác,” bất kể họ thấy mình ở đâu, đều nhận thấy kinh nghiệm của họ cách họ rời khỏi môi trường mới đến độ nào—và điều này có thể trở thành một nguồn ảnh mới. Hành tinh của chúng ta, nhỏ dần qua từng năm, với sự phát triển vượt bậc của các phương tiện thông tin đại chúng, đang chứng minh kiến ​​​​trúc một quá trình rất khó xác định, mà đặc biệt là sự chấp nhận. Chắc chắn, những người mù chữ trong các thế kỷ trước, tức là đại đa số nhân loại, biết rất ít về lịch sử đất nước và nền văn minh của họ. Ngược lại, trong tâm trí của những người mù chữ hiện đại, những người biết đọc và viết, thậm chí là giảng dạy trong các trường học và trường đại học, lịch sử hiện diện nhưng mờ nhạt, trong một trạng thái nhẹ nhàng lạ lùng; Molière trở thành người cùng thời với Napoléon, Voltaire cùng thời với Lenin. Ngoài ra, các sự kiện của những thập niên trước, cơ bản đến khả năng hiểu biết hoặc thiếu hiểu biết về chúng sẽ quyết định đối lập với tương lai của các nhân loại, sẽ lùi đi, phai nhạt, mất hết tính nhất quán có thể như mong đợi của Frederic Nietzsche về thuyết hư châu Âu đã ứng nghiệm theo nghĩa. “Con mắt của một người hư vô”—ông viết năm 1887—“bất tín với những ký ức của anh ta: nó cho phép chúng rơi, rụng lá;… Và cái mà người hư vô không làm cho mình, anh ta cũng không làm cho cả khứ khứ của nhân loại: anh ta để nó rơi rụng.” Ngày nay những hư cấu về quá khứ, trái ngược với lương tri và nhận thức sơ đẳng về thiện và ác đang bao quanh chúng ta. Như tờ Los Angeles Times tuyên bố gần đây, đã có hơn một trăm cuốn sách bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau phủ nhận Holocaust từng diễn ra, rằng đó là sự tuyên truyền của người Do Thái thiết bị ra. Nếu sự điên cuồng như vậy có thể xảy ra thì liệu sự mất trí nhớ hoàn toàn như một trạng thái thần thoại viễn tưởng phải là không thể? Và nó sẽ không tạo ra mối đe dọa béo phì hơn kỹ thuật truyền tải hay sự khởi đầu của môi trường tự nhiên?

Đối với nhà thơ của “châu Âu khác,” những sự kiện mà cái tên Holocaust bao trùm là một thực tế, nhưng rất mới đến cấp anh ta không thể hy vọng giải thoát bản thân khỏi trí nhớ của họ trừ khi, có thể, bằng cách dịch các Thánh Vịnh của David. Tuy nhiên, anh ta thấy lo lắng khi ý nghĩa của Holocaust biến đổi tăng dần, đến cấp độ này bắt đầu chỉ thuộc về lịch sử của người Do Thái, như thể trong số nạn nhân không có hàng triệu người Ba Lan, Nga, Ukraine và những nhân vật quốc tế khác. Anh ta thấy lo lắng, vì cảm nhận được trong đó đã báo về một tương lai không xa khi lịch sử thu hẹp thành những gì xuất hiện trên TV, trong khi sự thật, bởi quá phức tạp, sẽ được rửa sạch trong các văn khố, nếu không bị hủy hoàn toàn. Các sự kiện khác, gần gũi với anh ta, nhưng lại xa vời với người phương Tây, tạo tầm nhìn của HG Wells trong Cỗ máy thời gian trở nên đáng tin cậy hơn: đất trái thành nơi sống của một bộ tộc những đứa trẻ của ban ngày, vô tư, không có trí nhớ và do đó không có lịch sử, không có phòng thủ khi đối đầu với cư dân của các hang động cân, những đứa trẻ ăn thịt người của màn hình.

Là hoạt động của sự thay đổi công nghệ được đưa ra, chúng tôi đã nhận được sự thống nhất của hành động mà chúng tôi đang hình thành và phân bổ tầm quan trọng cho ý tưởng cộng đồng quốc tế. Ngày thành lập Hội Quốc Liên và Liên Hợp Quốc được ghi nhớ. Không thể nào, những ngày đó đã mất đi ý nghĩa nên một ngày khác nên được kỷ niệm năm vĩnh cửu làm ngày để tang, trong khi các thế hệ trẻ hầu như chưa biết đến. Đó là ngày 23/8/1939. Hai nhà độc tài hôm nay đã đồng ý với một điều khoản bí mật phân chia các nước láng giềng có thủ đô, chính phủ và quốc hội của riêng họ. Nó không chỉ mở ra một cuộc chiến khủng khiếp mà còn thiết lập lại một nguyên tắc thuộc địa, khi mà các quốc gia không hơn những gì đàn gia sản hiện ra mua bán, hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các chủ sở hữu tức thời. Biên giới, quyền tự quyết định, hộ chiếu của họ không tồn tại. Và thật ngạc nhiên khi ngày nay người ta phải thì thầm, đặt một ngón tay lên môi trường, về cách mà các nhà độc tài đã áp dụng nguyên tắc đó bốn mươi năm trước.

Những tội ác xâm phạm các quyền con người, không bao giờ được thú nhận và không bao giờ bị lên án công khai, là độc độc phá khả năng có một tình hữu nghị giữa các quốc gia. Các tuyển tập thơ Ba Lan in thơ của những người bạn quá cố gắng của tôi—Władysław Sebyła và Lech Piwowar, và cho biết ngày mất của họ: 1940. Thật vô lý khi không thể viết họ đã chết thế nào, dẫu ai ở Ba Lan cũng biết sự thật: họ cùng chung số phận với hàng và sĩ quan Ba ​​Lan trở thành kẻ đồng lõa với Hitler vũ khí và giám sát, họ đã ở trong một tập tập could. Và các thế hệ trẻ phương Tây, nếu có học lịch sử nhỏ nào, nên biết về 200.000 người bị giết năm 1944 ở Warsaw, một thành phố bị kẻ địch hai đồng lõa kết án tiêu diệt?

Hai nhà độc tài diệt chủng đã chết từ lâu, nhưng ai biết rằng họ đã giành được hay không một chiến thắng nào có ảnh hưởng lâu dài hơn những chiến thắng của quân đội họ. Bất chấp hiến pháp Đại Tây Dương, việc chia châu Âu thành hai vùng đã xác nhận nguyên tắc rằng các quốc gia là đối tượng để mua bán, dù không nói là những con chíp trong trò chơi bài bạc hoặc xúc xắc. Sự vắng mặt của ba nước Baltic trong Liên Hợp Quốc là một lời nhắc nhở liên tục về di sản của hai nhà độc tài. Trước chiến tranh, các nước này thuộc Hội Quốc Liên, nhưng sau đó họ đã biến mất khỏi bản đồ châu Âu do điều khoản bí mật trong Hiệp ước năm 1939.

Tôi mong được thứ đó đã trình bày trần ra một ký ức như một vết thương. Chủ đề này không liên quan đến suy nghĩ của tôi về từ “thực tế,” thường được dùng sai nhưng luôn luôn đáng trân trọng. Những lời than phiền của các dân tộc, những hiệp ước còn nguy hiểm hơn những gì chúng ta đọc trong Thucydides, hình một chiếc lá phong, những bình minh và hoàng hôn trên đại dương, toàn bộ cấu hình của nhân và kết quả, dù chúng ta gọi là Tự nhiên hay Lịch sử, đều hướng tới, tôi tin là thế, một thực tế an toàn khác, không thể chạy, mặc dù tản ra sức hút của bất kỳ kỹ thuật và trung học. Có những lúc tôi thấy như tôi đang giải mã ý nghĩa của những tai ách biến lên các dân tộc của “châu Âu khác” và ý nghĩa ấy là biến họ thành những kẻ mang ký ức—ở thời điểm mà châu Âu không tính từ và châu Mỹ có ngày càng ít qua thế hệ.

Có khả năng là không có ký ức nào ngoài ký ức về những vết thương. Ít nhất thì Kinh Thánh đã dạy chúng ta như vậy một cuốn sách về những nỗi đau khổ của người Israel. Cuốn sách này trong một thời gian dài đã được phép các quốc gia Châu Âu tồn tại một cảm giác về tính liên tục—một từ không nên nhầm lẫn với thuật ngữ thượng lưu là lịch sử.

Trong ba mươi năm sống ở nước ngoài, tôi cảm thấy mình có nhiều đặc quyền hơn các đồng nghiệp phương Tây, dù là nhà văn hay người giảng dạy văn học, bởi những sự kiện gần đây lẫn từ rất lâu đã xác định rõ ràng và chính xác trong tâm trí tôi. Độc giả phương Tây đối mặt với những bài thơ hay những cuốn tiểu thuyết được viết ở Ba Lan, Tiệp Khắc hay Hungary, hay với những bộ phim sản xuất ở đó, có thể cảm nhận được một ý thức sắc bén tương tự, trong cuộc đấu tranh liên tục chống lại những hạn chế kiểm duyệt. Ký ức vì thế là sức mạnh của chúng tôi, nó bảo vệ chúng tôi khỏi một ngôn ngữ xung quanh chính nó như dây thường xuân khi nó không tìm thấy căn cứ trên một cái cây hay một bức tường.

Cách đây ít phút tôi bày tỏ mong muốn thoát khỏi sự kiên cường giữa nhu cầu có khoảng cách của nhà thơ với cảm giác kết nối với đồng loại. Tuy nhiên, nếu chúng ta lấy chuyến bay trên Trái đất làm ẩn cho thiên chức của nhà thơ thì không khó để nhận ra nó hàm ý một vững chắc, ngay cả trong những thời đại mà nhà thơ được tự làm tương phản từ những bẫy bẫy của Lịch sử. By làm thế nào để vừa ở trên cao, vừa nhìn thấy Trái đất trong từng chi tiết? Tuy nhiên, trong sự cân bằng bấp bênh của các đối lập, một sự hài hòa nhất định có thể đạt được nhờ một khoảng cách làm dòng thời gian tạo ra. “Thấy” không có nghĩa duy nhất là có những thứ đó trước mắt. Nó vẫn có thể có nghĩa là bảo tồn trong ký ức. “Thấy và mô tả” có thể được định nghĩa là tái tạo trong tưởng tượng. Một khoảng cách đạt được nhờ sự ẩn giấu của thời gian không thể biến các sự kiện, cảnh quan, hình bóng con người thành một mới những cái bóng ngày càng mờ nhạt. Ngược lại, nó không thể thực hiện những thứ thứ hai dưới ánh sáng toàn diện, để mọi sự kiện, mọi ngày đều có thể đạt được và tồn tại như một lời nhắc nhở viễn viễn về sự sa đọa của con người, nhưng cũng là cả sự vĩ đại của con người. Những người còn sống đã nhận được thủy thác từ những người đã mãi mãi bất động. Họ chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ bằng cách cố gắng hoàn thành chính xác những gì đã có và bằng cách lấy lại quá khứ từ những hư cấu và truyền thuyết.

Bởi vậy mà cả hai—Trái đất nhìn từ trên cao trong một hiện tại vĩnh cửu và Trái đất tồn tại trong một thời gian lấy lại—đều có thể dùng làm chất liệu cho thơ.

IV

Tôi không muốn tạo ấn tượng là tâm trí tôi hướng về quá khứ, vì như thế sẽ không đúng. Như mọi người cùng thời, tôi đã cảm nhận được sức kéo của tuyệt vọng, của quân tử vong sắp đến, và tự vệ của mình vì đã khuất phục trước một cơn cám dỗ hư vô. Song ở một mức độ sâu hơn, tôi tin thơ của tôi tỉnh táo và, trong thời đại đen tối, có thể hiện một niềm khao khát Vương quốc Hòa bình và Công lý. Tên của người đã dạy tôi không tuyệt vời nên được nhắc đến ở đây. Chúng ta đã nhận được những món quà không chỉ từ quê hương, những dòng sông hồ, những truyền thống của nó, mà còn sót lại từ những người, đặc biệt là nếu gặp được một cá tính mạnh vào thời trẻ. Tôi thật may mắn khi được người họ hàng Oscar Milosz, một người Paris cô độc và có tầm nhìn, đối xử gần như một người lừa đảo. Tại sao ông là một nhà thơ Pháp, có thể được sáng tỏ bằng câu chuyện phức tạp của một gia đình cũng như của một đất nước từng được gọi là Đại Công quốc Litva. Kể cả thế, người ta vẫn có thể tìm thấy trên báo chí Paris gần đây Nỗi buồn tiếc nuối rằng nửa thế kỷ trước đó giải thưởng quốc tế cao quý nhất đã không được trao cho một nhà thơ cùng họ với tôi.

Tôi đã học được nhiều điều từ ông. Ông đã cho tôi hiểu sâu hơn về tôn giáo của Cựu ước và Tân ước và khắc ghi sự cần thiết phải có một hệ thống thứ hạng béo, khổ hạnh trong mọi vấn đề của tinh thần, bao gồm mọi thứ liên quan đến nghệ thuật, nơi ông coi một tội lỗi lớn là đặt cái thứ yếu ngang hàng với cái chính. Nhưng trên hết, tôi lắng nghe ông như một nhà tiên tri yêu thương con người, như ông nói, “bằng tình yêu cũ mòn đi vì thương tổn, cô đơn, và giận dữ” và chính vì thế đã cố gắng cảnh báo về một thế giới điên cuồng đang tiến tới thảm họa. thảm họa sắp đến, tôi nghe từ ông, nhưng tôi cũng nghe từ ông rằng hậu đại họa mà ông mong đợi sẽ chỉ là một phần của một vở kịch lớn hơn sẽ diễn ra cho hết.

Ông đã nhận thấy những nguyên nhân sâu xa hơn trong một phương tiện sai lệch mà khoa học ở thế kỷ 18 đã đi, một phương hướng gây ra các phản ứng tuyết. Khác với William Blake trước đó, ông thông báo một Thời Đại Mới, một hưng phấn thứ hai của trí tưởng tượng mà giờ đây đã bị thương bởi một số loại kiến ​​thức khoa học, nhưng ông tin, không phải là tất cả, nhất là thứ khoa học sẽ là những người trong tương lai khám phá. Tôi không quan tâm đến việc hiểu ý nghĩa đen tối của những kỳ vọng của ông đến mức độ nào: một định hướng chung là đủ.

Oscar Milosz, như William Blake, đã giành được cảm hứng từ các tác phẩm của Emanuel Thụy Điển, nhà khoa học, sớm hơn bất kỳ ai khác, đã thấy trước sự thất bại của con người, ẩn trong mô hình Newton của Vũ trụ. Khi, giúp đỡ người thân của mình, trở thành một độc giả chăm sóc của Thụy Điển, diễn giải ông không, đúng vậy, như thường lệ trong thời kỳ Lãng mạn, tôi đã không hình dung mình sẽ đến thăm đất nước của ông lần đầu vào một lần như thế này.

Thế kỷ của chúng ta sắp kết thúc, và phần lớn giúp đỡ những ảnh hưởng đó, tôi không trả lời nó, bởi vì nó cũng là một thế kỷ của đức tin và hy vọng. Một biến thể chuyển sâu mà chúng ta hầu như không thể nhận thức được, bởi vì chúng ta là một phần của nó, đang diễn ra, và mời nó mới hiện diện trong những hiện tượng gây ra sự ngạc nhiên chung. Biến chuyển ấy liên quan, và ở đây tôi dùng lời khuyên của Oscar Milosz, đến “bí mật sâu kín nhất của quần chúng tôi cực khổ, sống động, sôi sục và giày bò hơn bao giờ hết.” Bí mật của họ, một nhu cầu không nói để thực hiện mục tiêu giá trị, không có ngôn ngữ để thực hiện nó, và ở đây không chỉ truyền thông đại chúng mà cả trí thức cũng phải gánh chịu một trách nhiệm nặng nề. Nhưng chuyển nó đang diễn ra, trái ngược với những dự đoán ngắn hạn, và có thể là bất chấp tất cả những dũng sĩ và nguy hiểm nguy hiểm, thời đại chúng ta sẽ được đánh giá là một giai đoạn cầu cung thiết bị trước khi nhân loại bước lên một công thức mới. Rồi một trạng thái cấp bậc mới sẽ xuất hiện, và tôi tin rằng Simone Weil và Oscar Milosz, những nhà văn mà tôi đã lo lắng học trong ngôi trường của họ, sẽ được ghi nhận. Tôi cảm thấy họ ta nên tuyên bố công khai sự gắn bó của mình với những cái tên định nghĩa nhất, bởi lẽ theo cách đó, chúng ta xác định vị trí của mình rõ ràng hơn là liệt kê những cái tên mà họ ta nói một lời “không” kịch liệt. Hy vọng của tôi là trong diễn đàn từ này, bất chấp dòng suy nghĩ xung quanh co, một thói quen nghề nghiệp không tốt của các nhà thơ, “có” và “không” của tôi có thể hiện rõ ràng, ít nhất là đối với sự lựa chọn kế thừa. Bởi tất cả chúng ta, những người có mặt ở đây, cả diễn giả hỗn loạn, chỉ là những đôi mắt di chuyển giữa quá khứ và tương lai.

Czesław Miłosz, Bài giảng Nobel (New York: Farrar, Straus và Giroux, 1980).

Bản quyền © 1980 của Czesław Miłosz | Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Bình luận