SỰ BIỂU HIỆN CỦA TÍNH NỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM QUA ANH ĐÀO ƠI (KOMACHI) VÀ TỰ TÌNH II (HỒ XUÂN HƯƠNG)

Hệ thống cung cấp kho dữ liệu phân tích tác phẩm và trắc nghiệm chất lượng cao.

Hồ Hoàng Gia

LINK TẢI FILE PDF

I.Khái quát 

1.Tính nữ trong văn học: 

- Tính nữ trong văn học là phẩm chất của các tác phẩm viết về phụ nữ, phản ánh  chân thực số phận, thế giới tâm hồn của người phụ nữ, và đặc biệt các tác phẩm phải toát  lên vẻ đẹp, lối tư duy, tính cách rất riêng của người phụ nữ... Tính nữ trong văn học có thể  tồn tại trong các tác phẩm của nam giới viết về người phụ nữ, nhưng biểu hiện cụ thể và  sinh động nhất trong các tác phẩm do nữ giới viết. (Khuê oán, Chinh phụ ngâm, Mưa xuân  => nam viết về nữ) 

- Văn học là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của thế giới tâm hồn con người.  Nó là biểu hiện chân thực, chân thành nhất của những xúc cảm nội tại vốn không dễ dàng  nhận thấy. Đối với người phụ nữ mang trái tim đa cảm, văn chương càng là một thế mạnh,  một nhu cầu tất yếu để họ dễ dàng bộc bạch những tâm sự của mình. 

- Văn học viết về người phụ nữ ở Việt Nam và trên thế giới trước nay không phải  ít. Có rất nhiều tác phẩm của các tác giả nam viết về người phụ nữ có được thành công nhất  định. Tuy vậy, những tác phẩm văn học viết về phụ nữ với đầy đủ những suy tư, chiêm  nghiệm chân thành nhất có lẽ không gì vượt qua các tác phẩm mà các nhà thơ, nhà văn nữ  viết về chính mình như một sự tự biểu hiện chân thực, cụ thể. 

- Trong nền văn học trung đại Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung, văn  học nữ vẫn luôn được xem như một phần thứ yếu. Xét số lượng, các nữ tác giả và những  tác phẩm viết về phụ nữ vốn không đáng kể so với giới còn lại. Mặc dù vậy, không thể phủ  nhận vai trò của nữ giới cũng như sự phát triển của văn học nữ trong tiến trình văn học của  mỗi dân tộc và trên thế giới. Phản ánh cuộc sống ở một góc nhìn rất riêng, trong những  cảm nhận đặc biệt về cuộc đời và con người, những sáng tạo của các nữ sĩ tuy chỉ chiếm  phần nhỏ nhưng về chất lượng, các tác phẩm văn học nữ lại không hề thua kém so với các  tác phẩm của nam giới. Mỗi tác phẩm văn học nữ ra đời, bên cạnh đó, còn là sự phản ánh  trung thực nhất bản chất tâm lồn, số phận của những người phụ nữ thời đại, qua đó, phần  nào tính dân tộc được thể hiện trong các tác phẩm văn học cũng hiện lên rõ ràng, cụ thể. 

+ Ở Nhật Bản từ lâu đã hình thành chế độ mẫu hệ, vai trò của người phụ nữ vốn  luôn được trân trọng. Tuy bị gián đoạn bởi sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Trung  Quốc thời phong kiến với tư tưởng đạo Nho hạ thấp địa vị của người phụ nữ trong xã hội,  đến thời Heian, khi văn hóa Nhật Bản đã tự tìm một chỗ đứng độc lập với bản sắc riêng,  giá trị của người phụ nữ trong xã hội một lần nữa được khẳng định. Văn học Nhật Bản từ  đây có sự đóng góp đáng kể từ các tác phẩm của các tác giả là nữ giới. Thiên tính nữ trở  thành một đặc điểm của văn học Nhật Bản mà trong cả các tác phẩm văn học của các nam  tác gia sau này vẫn còn rất đậm nét.

+ Văn chương cổ điển Việt Nam cùng những quan niệm, định kiến của xã hội nam  quyền hầu như không có chỗ cho người phụ nữ tự đứng lên cất tiếng nói như một giá trị  với tư cách bình đẳng với nam giới. Phải đến những năm cuối thế kỉ XVIII- đầu XIX, chế  độ phong kiến khủng hoảng kéo theo sự sụp đổ của nền Nho giáo thống trị, tiếng nói về  quyền con người được cất lên mạnh mẽ, làm điểm tựa cho những người phụ nữ trong xã  hội được phép nói lên những tâm sự về cuộc đời, số phận đã từ lâu bị dồn nén, kìm kẹp bởi  những thói tục, lễ giáo hà khắc. Sự phát triển rực rỡ của văn học giai đoạn này không thể  không kể đến vai trò to lớn của các nữ sĩ như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện  Thanh Quan,... bên cạnh những tên tuổi như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế  Xương,... 

- Ono no Komachi của Nhật Bản và Hồ Xuân Hương của Việt Nam được đánh giá  là những nhà thơ nữ tiêu biểu, có đóng góp to lớn trong nền thi ca của hai dân tộc. Hai bài  thơ Anh đào ơi và Tự tình II cũng nằm trong số những tác phẩm đặc sắc nhất. Vượt qua  khoảng cách về không gian địa lí và thời đại, có thể nhìn thấy những điểm giao thoa trong  tâm hồn những người phụ nữ thời trung đại, bên cạnh đó là những điểm khác biệt trong cá  tính, tính thần dân tộc qua việc phân tích, tìm hiểu các tác phẩm trong cái nhìn so sánh, đối  chiếu. 

2.Mấy nét về tác giả, tác phẩm  

2.1.Tác giả Ono no Komachi và bài thơ Anh đào ơi: 

* Thời đại Heian (Thời đại Bình An) 

- Kéo dài từ năm 794 đến năm 1192, kinh đô được dời tới Heian kyo (Bình An kinh,  thành phố Tokyo ngày nay). Đây được coi là một dấu son trong văn hóa Nhật Bản, được  các thế hệ sau ghi nhớ, ngưỡng mộ. Bước vào thời kỳ Heian, cùng với việc nhà Đường suy  thoái, văn hóa Nhật Bản đã tự tin tách khỏi Trung Quốc và phát triển độc lập. Chúng được  chuyên hóa theo quan niệm của người Nhật với những bản sắc riêng, thể hiện sức sáng tạo,  sự may mắn của một dân tộc tách khỏi khối lục địa Đông Á. 

- Heian là thời đại của những quý tộc văn quan, mà đứng đầu là họ Fujiwara thông  trị Nhật Bản. Giới quý tộc Nhật thời đó sống thanh bình và an nhàn, tận hưởng một cuộc  sống xa hoa nhưng không hoang phí. Họ sống trong cầm, kỳ, thi, họa,... theo phong cách  Miyabi, tôn thời cảm xúc Aware. (Sự thấu cảm con người trước vạn vật) 

Miyabi: Chỉ sự thanh nhã, tao nhã trong mối quan hệ người với người, con người  với thiên nhiên, mà trong đó, tất cả mọi chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng phải hoàn mỹ và trở  thành nghệ thuật. 

Aware: Chỉ sự thấu cảm giữa con người và vạn vật, là nỗi xao xuyến trước cái đẹp,  sự cảm biết, thấu hiểu cái vô thường tạm bợ của thế giới, trở thành nỗi buồn tiếc thương  trước sự mất còn; chính là nhân sinh quan của người Nhật cho đến tận ngày nay. 

- Văn học Nhật Bản thời kỳ này ghi nhận sự đóng góp to lớn của nữ giới, khi hầu  hết các tác phẩm trong thời kỳ này là do nữ giới sáng tác, cũng chính họ là người xác lập  thứ văn hóa đa cảm này. Đó là một hiện tượng văn hóa phi thường, hiếm có trong thời  phong kiến ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt các quốc gia phương Đông. Các tác giả nổi bật thời kỳ này có Murasaki Shikibu với Truyện Genji, Sei Shonagon với thể loại tùy bút, và  Izumi Shikibu, Ono no Komachi với thơ waka…. 

*Tác giả Ono no Komachi: Biểu tượng văn hóa đặc biệt của Nhật Bản 

- Cuộc đời: Ono no Komachi là nhà thơ nữ Nhật Bản sống ở thời kì Heian. Cuộc  đời bà được biết đến với nhiều truyền thuyết về nhan sắc hiếm có, là biểu tượng cho vẻ đẹp  phụ nữ Nhật Bản. 

- Con người: Mang trái tim phụ nữ đa sầu đa cảm, với những suy nghiệm sâu sắc về  tình yêu, cuộc đời và tinh thần vươn lên tìm kiếm sự tự do; khao khát về một cuộc sống,  tình yêu tự do, hạnh phúc chính là mạch nguồn cảm hứng đi về trong thơ Komachi, tạo nên  chất thơ rất riêng vừa đằm thắm, nữ tính lại vừa giàu triết lí, suy nghiệm trong các tác phẩm  của bà. 

- Sự nghiệp: Với tư cách nhà thơ, Onono Komachi chuyên sáng tác những bài thơ  theo giọng lả lơi gợi tình với thi pháp phức tạp. Phần lớn những bài waka của bà viết về  tình yêu khắc khoải, cô đơn hoặc đầy đam mê. Komachi là một trong 36 vị tiên thơ do tác  giả Fujiwara no Kita lựa chọn, đồng thời phong cách thơ của bà được đáng giá là chứa  đựng vẻ ngây thơ cổ điển thanh tao (Cổ kim hòa ca tập). 

*Bài thơ Anh đào ơi:  

- Xuất xứ: Kokin-shuu (Cổ kim tập) quyển 2, thơ mùa xuân, phân hạ. - Văn bản: Nguyên văn: 

花の色は 

うつりにけりな 

いたづらに 

わが身世にふる 

ながめせしまに 

- Diễn ý: 

Ôi, anh đào đã nhạt màu hết rồi 

Trong cơn mưa dài đìu hiu 

Nhìn lại thân phận của mình nào có khác, 

Mãi ngậm ngùi nhìn nhan sắc héo tàn đi. 

- Dịch thơ: 

Anh đào ơi 

Nhan sắc phai rồi 

Hư ảo mà thôi. 

Tôi nhìn thăm thẳm 

Mưa trên đời tôi.

(Bản dịch của Nhật Chiêu) 

- Đặc sắc nội dung, nghệ thuật: Mượn hình tượng hoa anh đào tàn phai trong cơn  mưa để nói về sự hư ảo của nhan sắc, tuổi xuân, kiếp người; bài thơ phảng nỗi buồn và sự  tiếc nuối của một tâm hồn thiếu nữ đa sầu đa cảm đứng trước những cơn mưa cuộc đời  không khỏi lo lắng tới một ngày nhan sắc sẽ tàn phai. Qua đó, Komachi bày tỏ niềm khát  khao, một trái tim tha thiết hướng về cuộc đời, về hạnh phúc giữa lúc tuổi xuân còn phơi  phới. 

• Thể thơ waka cô đọng, lối diễn đạt hàm súc cùng những hình ảnh ước lệ đặc biệt  tạo cho bài thơ phong vị Nhật Bản với sự tinh tế, nhẹ nhàng, xao xuyến. 

2.2.Tác giả Hồ Xuân Hương và bài thơ Tự tình II 

* Thời đại  

- Cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm  trọng, chuẩn bị cho sự sụp đổ toàn diện của chế độ này vào nửa cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ  XX. - Ý thức hệ phong kiến trong thời kỳ này bị phá sản nghiêm trọng. Giai cấp thống trị  phong kiến Việt Nam vốn lấy Nho giáo làm ý thức hệ chính thống, dựa vào Nho giáo để  thống trị nhân dân, vì vậy, khi chế độ bị khủng hoảng trầm trọng, Nho giáo không còn giữ  được vị thế, ngày càng bị đả kích, lung lay dữ dội. Những giáo điều, luật lệ tuy một mặt  vẫn là gông cùm, mặt khác không còn là khuôn vàng thước ngọc, gương sáng phủ điều như  trước đó nữa. Thay vào đó, một khuynh hướng tư tưởng mới trỗi dậy mạnh mẽ, đó là luồng  gió dân chủ, tinh thần tự do; và sự bảo vệ, khẳng định quyền sống và giá trị, phẩm chất con  người. 

- Văn hóa dân tộc thời kỳ này phát triển rực rỡ. Về văn học, quan niệm sáng tác của  các tác giả có sự thay đổi: bên cạnh quan niệm truyền thống văn dĩ trai đạo, thì dĩ ngôn chí,  hình thành và phát triển một khuynh hướng thu hút đông đảo các nho sĩ sáng tác: hướng  tới con người bình thường và cuộc sống (dân bản, nhân bản). Chủ nghĩa nhân đạo trong  văn học phát triển rực rỡ. Các tác giả quan tâm nhiều hơn về phẩm chất cũng như số phận  của người phụ nữ trong xã hội, tập trung phản ánh vẻ đẹp và cuộc đời của người phụ nữ,  đồng thời cất lên tiếng nói đòi quyền sống công bằng cho họ. 

*Tác giả Hồ Xuân Hương: 

- Cuộc đời: Hồ Xuân Hương mang một cuộc đời có nhiều éo le, ngang trái. Một  cuộc đời không toại nguyện do số phận riêng và do hoàn cảnh chung của xã hội. Bà từng  đi nhiều nơi, giao thiệp rộng (điều rất hiếm gặp ở nữ giới bấy giờ). Tuy vậy, đường tình  duyên của Xuân Hương lại gặp nhiều trắc trở. Hai lần làm lẽ và hai lần đều góa bụa, Xuân  Hương đau nỗi đau của người phụ nữ; thấm thía, xót xa, chua chát hơn ai hết thân phận của  người phụ nữ. - Con người: Một nữ sĩ phong lưu, đa tài nhưng vì cảnh đời éo le mà trong  lòng khôn nguôi nỗi niềm đau đớn, xót xa trước số phận, cuộc đời. Bà gắn bó với cuộc  sống và luôn mãnh liệt một lòng ham sống vô bờ. Tất cả điều này tạo nên một gương mặt  Xuân Hương rất riêng trong nền văn học nước nhà nói riêng và nền văn học thế giới. 

- Sự nghiệp: Xuân Diệu nhận xét: Xuân Hương không như Đoàn Thị Điểm, nặng  về tạo nhã; không như Ngọc Hân công chúa, nặng về thiết tha khóc than; không như Bà  Huyện Thanh Quan, làm thơ như có hầu đi theo sau: Xuân Hương là trong thơ có người và  trong thơ có quỷ. Hồ Xuân Hương mang một gương mặt thơ ca độc đáo: tư tưởng nổi loạn,  sự đả kích gay gắt xã hội phong kiến mục ruỗng đương thời, tiếng nói khẳng định cái tôi  cá nhân mạnh mẽ và sự bám rễ rất sâu vào nguồn mạch dân gian, dân tộc đã khiến thơ bà  mãi sống trong lòng nhân dân, dân tộc. 

*Tác phẩm Tự tình II:  

- Xuất xứ: Nằm trong chùm thơ tự tình ba bài của Hồ Xuân Hương.  - Văn bản: 

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn 

Trơ cái hồng nhan với nước non 

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh 

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn 

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám 

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn 

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại 

Mảnh tình san sẻ tí con con  

- Đặc sắc nội dung, nghệ thuật: 

• Bài thơ tạc lên chân dung tinh thần của một người phụ nữ trầm uất, đối diện với  chính mình trong nỗi cô đơn, khắc khoải, chán chường, có khi là phẫn uất, tuyệt vọng để  rồi kết lại bằng những khát khao mãnh liệt của một tâm hồn bị phong tỏa bởi những lề thói  hà khắc của chế độ phong kiến ở Việt Nam đương thời. 

• Thể thơ Đường luật không hề khuôn thước mà tự nhiên, phù hợp với dòng cảm  xúc, ngôn ngữ đời sống chân thực được đưa vào thơ có phần táo bạo nhưng lại vô cùng  tinh tế, hình ảnh bình dị, quen thuộc nhưng chọn lọc,... là những yếu tố nghệ thuật làm nên  tài thơ Xuân Hương qua Tự tình II.

Bình luận