I − MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG
Thơ Đường là một thành tựu tiêu biểu của văn học Trung Quốc. Do đó hơn ngàn năm nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước lấy thơ Đường làm đối tượng. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu thơ Đường trước đây hoặc chỉ xét nội dung tư tưởng của thơ Đường, hoặc chỉ xét từng phương diện của hình thức thể hiện. Cũng có nhà nghiên cứu đi sâu vào từng loại thể hoặc từng tác giả cụ thể, nhưng chưa khảo sát thi pháp với tư cách là một hệ thống. Chuyên đề này nghiên cứu thi pháp thơ Đường tức là có mục đích khảo sát, phát hiện, miêu tả những quy luật của hệ thống hình thức thể hiện hệ thống nội dung của thơ
Đường.
Việc xác định sự phát triển của nội dung tư tưởng thơ Đường qua các giai đoạn và các thi phái, chúng ta đã thực hiện khi nghiên cứu lịch sử văn học Trung Quốc. Do đó chuyên đề này chỉ đi sâu khám phá quy luật của hệ thống hình thức trong mối liên hệ với hệ thống nội dung đã được xác định.
- Tại sao thơ trữ tình lãng mạn đời Đường lại thường tìm đến sự tương thông, hoà hợp giữa con người với thiên nhiên, với thế giới ngoại cảnh ? Bằng cách nào nó thực hiện được điều đó ?
- Tại sao dòng thơ phản ánh hiện thực đời Đường lại thường phản ánh những bất công xã hội với những hình tượng đối lập ? Và vì sao thể cách của nó lại khác với thơ trữ tình lãng mạn ?
- Cái gì làm nên sự hấp dẫn của thơ Đường ?
- Cái mã nghệ thuật của nó được lập nên bởi những phương tiện nào ?
Trả lời những câu hỏi đó tức là tìm ra cái lý của hình thức, tìm ra hệ thống thi pháp. Đó chính là mục đích của việc nghiên cứu thi pháp thơ Đường.
Muốn thể hiện, phản ánh một nội dung nào đó, tác giả phải sử dụng một hình thức tương ứng, thích hợp. Việc sử dụng một hình thức này hay một hình thức khác đều có lý do của nó chứ không phải là ngẫu nhiên, tuỳ tiện.
Tìm ra được cái lý này, giải thích được tính quy luật của hệ thống hình thức sẽ giúp chúng ta hiểu thơ Đường một cách chính xác và khách quan.
Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu thi pháp thơ Đường chính là ở chỗ nó giúp chúng ta lý giải các hiện tượng, phân tích các bài thơ một cách khách quan, chính xác, tránh sự áp đặt, khiên cưỡng. Nó giúp ta hiểu, phân tích và giảng các bài thơ một cách chính xác và có sức thuyết phục hơn.
Mặt khác, vì thơ Đường là đỉnh cao của thơ cổ điển Trung Quốc, nó có ảnh hưởng sâu sắc đến thơ Trung Quốc các đời sau và cả đối với thơ Việt Nam trong thời phong kiến nên nắm được thi pháp thơ Đường, ta cũng có điều kiện để lý giải nhiều hiện tượng của thi pháp thơ cổ điển Việt Nam. Do đó, việc ứng dụng những kết quả của nghiên cứu thi pháp thơ Đường cũng sẽ được mở rộng. Nói cách khác, nghiên cứu thi pháp thơ Đường có ý nghĩa thực tiễn, thiết thực đối với những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học.
II − THẾ NÀO LÀ THI PHÁP HỌC VÀ THI PHÁP
Gần đây, việc nghiên cứu thi pháp trở nên phổ biến ở nước ta. Điều này cũng có nhiều nguyên nhân. Trong một thời gian dài, do những hoàn cảnh và nhu cầu lịch sử - xã hội, trong nghiên cứu văn học, chúng ta chủ yếu quan tâm đến nội dung tư tưởng, còn hình thức chưa được quan tâm một cách thích đáng. Đành rằng ở mọi sự vật, hiện tượng, quá trình, nội dung vẫn là cái cơ bản, quyết định ; nhưng thực ra sự tồn tại của nội dung không thể tách rời được hình thức, vì hình thức là hình thức của nội dung. Do đó không quan tâm đến hình thức thì cũng là phiến diện và thiếu biện chứng. Việc nghiên cứu thi pháp chính là để khắc phục sự
phiến diện đó. Nhưng nếu sự nghiên cứu hình thức tách rời cơ sở nội dung thì cũng lại sa vào một phiến diện khác. Hệ thống hình thức mà thi pháp học chọn làm đối tượng nghiên cứu luôn luôn phải gắn với hệ thống nội dung xác định.
Vậy, thi pháp và thi pháp học là gì ?
Từ điển bách khoa Xô viết ở mục Thi pháp học đã định nghĩa:
"Thi pháp học (từ tiếng Hi Lạp poetike: nghệ thuật thơ ca) là một bộ phận của lý luận văn học nghiên cứu cấu trúc của tác phẩm văn học và hệ thống phương thức mỹ học được sử dụng trong đó.
Thi pháp học bao gồm các bộ phận :
- Thi pháp học đại cương : nghiên cứu các phương thức nghệ thuật và những quy luật cấu thành tác phẩm, những cách thức thể hiện ý đồ tác giả phụ thuộc vào loại thể văn học.
- Thi pháp học miêu tả : chỉ ra những đặc điểm cụ thể của các tác phẩm, của các tác giả hoặc của các thời kỳ và các xu hướng.
- Thi pháp học lịch sử : nghiên cứu sự phát triển của các phương thức nghệ thuật (các kiểu chuyển nghĩa, các cách tu từ, vận luật,... thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, nhịp điệu,...).
Theo nghĩa rộng, thi pháp học tương hợp với lý luận văn học. Theo nghĩa hẹp nó tương hợp với sự nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca, cách nói nghệ thuật".
Mục Thi pháp học và thi pháp trong Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Chủ biên) định nghĩa :
"Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức hệ thống phương thức, phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học. Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hoá các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mỹ, chiều sâu phản ánh của sáng tạo nghệ thuật.
Xét các chỉnh thể văn học mang thi pháp có thể nói tới thi pháp tác phẩm cụ thể, thi pháp sáng tác của một nhà văn, thi pháp một trào lưu, thi pháp văn học dân tộc, thi pháp văn học một thời đại, thời kỳ lịch sử.
Xét các phương tiện, phương thức nghệ thuật đã được chia tách, có thể nói tới thi pháp của thể loại, thi pháp của phương pháp, thi pháp của phong cách thi pháp kết cấu, thi pháp không gian, thời gian, thi pháp ngôn ngữ, ...
Xét về cách tiếp cận, thi pháp học có ba phạm vi nghiên cứu :
- Thi pháp học đại cương (còn gọi là thi pháp học lý thuyết, thi pháp học hệ thống hoá hay thi pháp học vĩ mô)
- Thi pháp học chuyên biệt (hay còn gọi là thi pháp học miêu tả vi mô).
- Thi pháp học lịch sử.
3
- ...
Thi pháp học chuyên biệt tiến hành việc miêu tả tất cả các phương diện nói trên (tức thi pháp thể loại, không gian, thời gian, kết cấu, ngôn ngữ, mô típ, ...) của sáng tác văn học nhằm xây dựng "mô hình"- hệ thống cá biệt của các thuộc tính tác động thẩm mỹ. Vấn đề ở đây chính là các tương quan của tất cả các yếu tố nói trên trong một chỉnh thể nghệ thuật.
... Thi pháp học chuyên biệt có thể miêu tả tác phẩm văn học cá biệt cũng như cụm tác phẩm trong sáng tác của một nhà văn, của một loại thể, một trào lưu văn học hoặc một thời đại văn học.
Thi pháp học giúp ta công cụ để thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cốt cách tư duy của tác giả cũng như nắm bắt "mã" văn hoá nghệ thuật của các tác giả và các thời kỳ văn học nghệ thuật, từ đó nâng cao năng lực thụ cảm tác phẩm.
Thi pháp học cổ xưa nặng về tính chất quy phạm, cẩm nang. Thi pháp học hiện đại nặng về phát hiện, miêu tả các ngôn ngữ nghệ thuật đang hình thành và song hành với sự vận động của văn học" (1).
Từ hai định nghĩa trên ta thấy, tuy hai cách diễn đạt có chỗ khác nhau nhưng quan niệm về thi pháp và thi pháp học căn bản là nhất trí :
- Thi pháp là hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học. Hệ thống đó có thể chia tách thành các phương diện - (yếu tố) : thể loại, kết cấu, không gian, thời gian, ngôn ngữ.
- Thi pháp học là khoa học nghiên cứu hệ thống thi pháp đó.
- Thi pháp học có ba bộ phận, trong đó, thi pháp học chuyên biệt có nhiệm vụ miêu tả các phương diện của thi pháp tác phẩm, tác giả, trào lưu, thời đại, dân tộc.
Nói tóm lại, thi pháp học nghiên cứu hệ thống hình thức (tức thi pháp = nghệ thuật) biểu hiện hệ thống nội dung của các tác phẩm tác giả, tràn lưu, thời đại, dân tộc,...
III − ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chuyên đề này có nhiệm vụ ứng dụng những lý thuyết của thi pháp học để nghiên cứu thi pháp thơ Đường. Có nghĩa là nghiên cứu thi pháp chuyên biệt của một thời đại thơ ca Trung Quốc bằng cách phát hiện, miêu tả đặc trưng của các yếu tố : hình tượng thẩm mỹ (con người), không gian, thời gian nghệ thuật, thể loại, kết cấu và ngôn ngữ, ... của thơ Đường.
Do chỗ đối tượng nghiên cứu là thi pháp chuyên biệt của một thời đại thơ ca nên phương pháp chủ yếu để tiến hành là: miêu tả đặc điểm của các yếu tố hình thức một cách hệ thống để xác định tính chỉnh thể của hệ thống thi pháp.
Để xác định đặc trưng của hệ thống này, cần phải tiến hành so sánh sự phát triển và mối liên hệ đồng đại và lịch đại của các yếu tố, do đó phương pháp so sánh - lịch sử cũng được sử dụng bên cạnh phương pháp chủ đạo là phương pháp hệ thống.
Sở dĩ phương pháp hệ thống được sử dụng với tư cách chủ đạo là do tính chất của đối tượng nghiên cứu. Bản thân thi pháp là một hệ thống, các yếu tố phải được xác định trong mối liên hệ tương quan của chúng trong hệ thống, nếu tách biệt, chúng không có ý nghĩa.
(Câu chuyện sau đây có thể cho thấy tầm quan trọng của mối liên hệ giữa các yếu tố và hệ thống:
(1) Lê Bá Hán - Nguyễn Khắc Phi - Trần Đình Sử, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, H., 1992, tr.206 − 207.
4
Vì muốn mượn Kinh Kha hành thích Tần Thuỷ Hoàng, Thái tử Đan (nước Yên) rất trọng đãi chàng. Một lần nghe Kinh Kha khen đôi tay của một mỹ nhân trong hậu cung của Thái tử, Thái tử Đan liền chặt tay của người đẹp, đặt lên một chiếc khay, tặng cho Kinh Kha. Tráng sĩ rùng mình. Đôi tay sở dĩ đẹp vì nó là của người đẹp, là một bộ phận đẹp trong một toàn thể đẹp. Chặt lìa "yếu tố" đôi tay thì thật là tàn ác và chỉ còn gây nên nỗi khủng khiếp).
Lại nữa, các phương pháp hỗ trợ cũng có thể coi là những yếu tố của hệ thống phương pháp. Do đó, có thể nói, để nghiên cứu thi pháp cần sử dụng một hệ thống phương pháp (chẳng hạn phương pháp phân tích, thống kê, phân loại, so sánh - lịch sử) trong đó phương pháp hệ thống là chủ đạo.
IV − ĐỜI ĐƯỜNG, THƠ ĐƯỜNG, VỊ TRÍ CỦA THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG
Trong lịch sử xã hội phong kiến Trung Quốc, đời Đường có một vị trí khá đặc biệt. Ở đời Đường, Trung Quốc là một quốc gia phát triển phồn vinh trên tất cả các phương diện : kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, nghệ thuật,...
Thời đó, các ngành nghệ thuật đều phát triển (hội hoạ, âm nhạc, vũ đạo, kiến trúc, điêu khắc, văn học, thư pháp), trong đó phát triển nhất là hội hoạ và văn học. Trong văn học thì thơ là bộ phận có thành tựu cao nhất. Người Trung Quốc cũng như thế giới đều công nhận thơ Đường là đỉnh cao của thơ ca nhân loại.
Gần ba trăm năm tồn tại của nhà Đường, người Trung Quốc đã sáng tạo nên một nền thơ ca vĩ đại. Bộ Toàn Đường thi (biên soạn ở đời Thanh, cách hơn một ngàn năm sau) thu hợp 48.900 bài thơ của hơn 2300 nhà thơ. Con số thực có của thơ Đường chắc còn lớn hơn, vì bộ Toàn Đường thi được sưu tập sau hơn một ngàn năm với rất nhiều thăng trầm biến cố lịch sử. Nhưng đó là mới nói về số lượng. Cái quan trọng hơn là chất lượng nội dung và nghệ thuật của thơ Đường.
Thơ Đường phản ánh một cách toàn diện xã hội đời Đường, thể hiện quan niệm nhận thức, tâm tình,... của con người một cách sâu sắc, nội dung cực kỳ phong phú được thể hiện bằng hình thức hoàn mỹ. Thành tựu trên các phương diện của thơ Đường đều đạt đến đỉnh cao.
Thơ Đường là tập đại thành của thơ cổ điển Trung Quốc cho nên những phương diện của thi pháp thơ cổ điển ở đây đều tiêu biểu.
Trong cuốn Hán văn học sử cương yếu, Lỗ Tấn có nói: "Văn xuôi và thơ Trung Quốc đến Đường thì có một sự biến đổi lớn". Sự đột biến này là kết quả của một quá trình tích luỹ lâu dài những kinh nghiệm nghệ thuật của hơn mười thế kỷ thơ ca đã đến độ chín muồi. Sự đột biến này thể hiện ở kiểu tư duy nghệ thuật mới mẻ, độc đáo, tạo nên cái mốc quan trọng trên con đường phát triển của thơ ca Trung Quốc.