HỆ THỐNG THỂ LOẠI VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM - GS.TS Trần Đình Sử

Hệ thống cung cấp kho dữ liệu phân tích tác phẩm và trắc nghiệm chất lượng cao.

Hồ Hoàng Gia

 

Nghiên cứu văn học trung đại ai cũng gặp phải vấn đề hóc búa nhất là xác định hệ thống thể loại văn học, bởi chính cái hệ thống này có vai trò cụ thể hoá khái niệm văn học. Có thể nói “văn học” là một cơ thể hoàn chỉnh mà các thể loại là các bộ phận : đầu, mình, tứ chi,… Và trong suốt quá trình phát triển văn học trung đại đường biên của hệ thống thể loại này có những biến động nhất định : thể loại này mờ đi, thể loại khác xuất hiện, thể loại này vào trung tâm, thể loại kia ra ngoài rìa, tạo thành một dòng chảy uốn lượn, biến đổi bất tận.

1. Để hệ thống hoá các thể loại của văn học trung đại, trước hết ta hãy tìm hiểu sự phân loại của người xưa, của các tác giả Trung Quốc và Việt Nam thời trung đại để hiểu được thực chất vấn đề.

a) Thể loại văn học trung đại là một hiện tượng rất bề bộn, cách phân loại cũng bề bộn. Căn cứ vào Từ điển văn chương học cổ điển Trung Quốc thì có 46 cách phân loại, từ Thượng thư cho đến cuối đời Thanh. Việc phân chia này ngày càng chi li, rườm rà. Thượng thư có 10 loại : điển, mô, cống, ca, thệ, cáo, huấn, mệnh, chinh, phạm. Ở Lưu Hiệp có 20 loại. Tiêu Thống có 39 loại, Lý Phường (Bắc Tống) có 38 loại, Diêu Huyền (Bắc Tống) có 22 loại với 316 tiểu loại, Trương Tương từ đời Thanh chia làm 6 bộ 12 loại với 400 thể v.v… Thượng thư là tập văn hiến cổ nhất Trung Hoa, tương truyền qua tay Khổng Tử biên soạn, đời trước Tần, cho nên bao gồm chủ yếu các thể văn thư quản lý nhà nước, chưa có ý thức về thể loại văn học. Lưu Hiệp, Tiêu Thống là tác giả của thời kỳ “giác ngộ bản chất văn chương” ở Trung Hoa, nhưng ở Lưu Hiệp ngoài việc đề cao các thể văn đẹp như thơ phú, ông còn kể đến các thể văn công vụ, hành chính như hịch, di, chương, biểu, tấu, khải, nghị, đối, thư, ký,… Mặt khác đối với các thể truyện ký như sử ký, chí quái, chí nhân,… ông chưa coi trọng. Tiêu Thống gần với Lưu Hiệp, tuy ông đem các tác phẩm “kinh”, “sử” đặt ra ngoài văn chương, nhưng vẫn đưa vào văn chương các văn bản hành chính công vụ như sách, lệnh, biểu, khải, hịch, thiết luận,… Ông cũng không đưa tiểu thuyết vào văn, và không đánh giá đúng chất văn trong trước tác chư tử. Đời Tống là thời kỳ ý thức văn học lên cao, sau thời đại văn học huy hoàng của đời Đường, nhưng quan niệm thể loại thì không khác Tiêu Thống là bao, vẫn không dung nạp truyền kỳ, biến văn có từ đời Đường, Tống. Diêu Huyền đời Bắc Tống ghi 22 loại là : cổ phú, cổ điệu, tụng, tán, biểu tấu, thư sớ, hịch, lộ bố, chế sách, văn (như chúc thọ, cáo tạ, giới lệ,…) luận, nghị, cổ văn, bi, minh, ký, trâm, giới, vật (giới thiệu tên sự vật), thư, tự, truyện, lục, ký, sự, trạng. Tác giả này đã chú ý đến truyện, lục, ký, sự, nhưng thơ, từ lại không đưa vào. Hầu như đến đời Minh với Ngô Nạp, Từ Sư Tăng thì ca hành từ khúc mới được đưa vào hàng văn thể. Nhưng truyền kỳ, tiểu thuyết vẫn chưa được tính đến. Cách phân chia thể loại của Trương Tương đời Thanh vẫn không có gì đổi thay đáng kể. Tất cả 46 tập tài liệu phân loại, văn tuyển của văn học cổ điển Trung Quốc cho thấy : ngự trị trong giới nghiên cứu một quan niệm văn học của thời trung đại : các thể loại hành chính, công vụ, thù tiếp, trước thuật, đều được đưa vào phạm vi văn chương, đồng thời các thể loại hư cấu, xây dựng hình tượng nhân vật chưa được coi là văn chương([1]). Đó là một quan niệm vừa rộng lại vừa hẹp, vừa tĩnh tại bất biến, hoàn toàn không trùng khít với quan niệm văn học hiện đại. Nhưng đó chính là quan niệm thể loại của người trung đại quan phương, nho gia, hoàn toàn không tính đến văn học dân gian và đánh giá thấp văn chương hư cấu. Nó không phản ánh được thực tế sáng tác văn học thời trung đại.

Một cách đánh giá lại hệ thống thể loại này theo quan điểm mới được thể hiện trong các sách văn học sử hiện đại. Chẳng hạn lấy bộ văn học sử Trung Quốc do nhà nghiên cứu Du Quốc Ân chủ trì, ta thấy các thể loại văn học sau (các bộ khác đại đồng tiểu dị):

Thời Tiên Tần : thần thoại, kinh thi, văn xuôi lịch sử, văn xuôi chư tử, sở từ, ly tao, phú.

Thời Tần Hán : tản văn lịch sử (Lã Thị, Ban Cố), văn chính luận (Giả Nghị…) từ phú, sử ký, phê bình văn học, nhạc phủ, thơ ngũ ngôn.

Thời Nguỵ Tấn : ca từ nhạc phủ, từ phú, thơ nhạc phủ, thơ điền viên, thơ sơn thuỷ, biền văn, văn xuôi, chí quái, dật sử, phê bình văn học.

Thời Tuỳ Đường Ngũ Đại : thơ cổ thể, luật thi, cổ văn, truyện truyền kỳ, biến văn, tục phú, thoại bản, từ.

Thời Tống : thơ, từ, luận văn, tản văn, thi thoại, thoại bản.

Thời Nguyên : tạp kịch, ca dao, thơ, tản văn.

Thời Minh : tiểu thuyết chương hồi, thơ, văn, ký, kịch, thoại bản.

Thời Thanh : thơ, tản văn, hý kịch, truyện ngắn, văn ngôn, tiểu thuyết chương hồi([2]).

Một sự đối chiếu hai cách nhận thức sắp xếp như trên cho thấy thể loại văn học trung đại đã được nhìn nhận lại trong quá trình lịch sử, toàn diện và biện chứng. Không thể máy móc gạt văn xuôi lịch sử và văn xuôi chư tử hay sử ký, luận văn ra khỏi văn học thời trung đại. Cũng như vậy, các sáng tác hình tượng đủ loại đều được đưa vào hệ thống thể loại.

b) Trong lịch sử ngữ văn học Việt Nam thể loại được sưu tập đầu tiên là thơ (thế kỷ XV) tiếp đến là phú (cuối thế kỷ XV), rồi các văn tuyển của Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, không kể các tập thơ, tập văn riêng của các tác giả (thế kỉ XVIII – XIX.)

Bảng phân loại của Lê Quý Đôn trong Đại Việt thông sử và của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí nghiêm khắc mà nói đều không phải là phân loại văn học.([3]) Mặc dù Lê Quý Đôn có ý thức rõ ràng về thể loại : “Văn không thể tạp loạn, thể tài phải tự khác nhau” (Lời tựa Đại Việt thông sử). Nhưng phân loại là một công việc rất khó, đặc biệt là trong điều kiện văn sử bất phân. Có lẽ, đúng hơn đó là sự kiểm kê tài sản văn hiến nước nhà, gần như là bảng danh mục văn khố mà các vị cho đến hồi ấy còn có thể thâm nhập được. Bảng kiểm kê ấy sau này được bổ sung, sắp xếp lại trong bộ sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm – nguồn tư liệu văn học, sử học Việt Nam do Thúc Ngọc Trần Văn Giáp biên soạn([4]), hoặc bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam Thư mục đề yếu mới xuất bản gần đây.

Quyển sách đầu tiên trình bày các thể thơ văn cổ ở ta có lẽ là Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính, trong đó tác giả kể đến : thơ, phú, văn tế, minh, trâm, tán, ca ngâm khúc điệu, các ca khúc (gồm lục bát, song thất lục bát), các điệu ca khúc, diễn kịch, đối liên, kinh nghĩa, văn sách, tứ lục, hịch văn, văn xuôi, văn ký sự, văn tựa. Tiếp đến là Quốc văn cụ thể của Bùi Kỷ, giới thiệu các thể thơ văn sau : lục bát, song thất lục bát, hát xẩm, hát nói miễu, thơ cổ phong. Đường luật, minh, trâm, tán, từ khúc, phú, văn tế, chiếu, biểu, cáo, hịch, trướng, kinh nghĩa, văn sách, tựa, truyện, ký, bia, luận, chèo, tuồng. Ở đây đã có mặt một số thể văn dân gian, nhưng lại thiếu vắng các thể ngâm, truyện nôm, vãn, hát nói, các thể truyền kỳ, thực lục, kệ, nhưng lại có văn kinh nghĩa. Có thể nói đó chưa phải là các công trình giới thiệu đầy đủ các thể loại văn học trung đại với một ý thức khoa học hoàn bị.

Công trình Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã giới thiệu có hệ thống các thể và hình thức thơ ca, nhưng đó chủ yếu mới tính riêng về thơ ca, mặc dù trong sách có bao gồm cả phú, văn tế, văn xuôi cổ. Có thể nói, cho đến nay một công trình nghiên cứu, giới thiệu đầy đủ các thể loại văn học trung đại Việt Nam vẫn chưa có. Đây là vấn đề đặt ra cho học giới và nhà trường và cần thiết phải có một chuyên đề về hệ thống thể loại văn học trung đại này. Nhà Việt Nam học Nga N.I. Niculin trong sách Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX (1977) đã trình bày quá trình văn học Việt Nam trung đại theo tiến trình hình thành thể loại theo quan niệm loại hình trung đại.

Ông chú ý trước hết tới văn bia thời Lý – Trần. Thơ bang giao, văn chính luận, kệ (thế kỷ X – XII) thơ (thế kỷ XIII – XV), sử ký, truyện truyền kỳ, dã sử, kể vè, hát xẩm (thế kỷ XVI – XVII), truyện Nôm, văn, ngâm khúc (thế kỷ XVIII – XIX), thơ, ca dao, vè, ca trù (hát nói), văn tế, tiểu thuyết. Tác giả đã chú ý tới tính nội dung của hình thức trong quá trình phát triển của thể loại.Tác giả đã nêu hết các thể loại văn học trung đại Việt Nam chưa?  Có lẽ là chưa. Ông chưa nói đến các loại tựa, bạt, tuỳ bút, thông sử, …

2. Nhìn chung, bức tranh hệ thống thể loại văn học trung đại đầy mâu thuẫn, cần được hình dung trên hai mặt. Một mặt là hệ thống thể loại theo nghĩa rộng gồm tất cả các thể loại văn sử bất phân. Mặt khác, là hạt nhân thể loại văn học nghệ thuật sẽ phát triển và tồn tại như một hiện tượng thẩm mỹ. Sự mâu thuẫn trong hai cách nhìn nhận thể loại văn học trung đại của người đương thời và người hiện đại là do đâu ? Nó nói lên tính chất gì ? Theo chúng tôi, sự mâu thuẫn đó là do, thứ nhất : tất cả các thể loại văn học trung đại, không một thể loại nào mang được tính chất thuần tuý văn học. Không phải chỉ riêng cáo, chiếu, biểu, sử ký, kệ, tán, bi văn,… là như vậy, mà ngay thơ, phú cũng vậy : thơ dâng tỏ chí, thơ bang giao, thơ để mừng bạn lên chức, mừng con trai, để tự giới thiệu hoặc phú dâng vua,… Nhưng mặt khác, thứ hai, không có thể loại nào là không thể đạt tới chất văn học – do khả năng tự biểu hiện và văn chương của ngôn từ, điều này tuỳ thuộc vào tài năng, mức độ biểu hiện tình cảm của tác giả. Bình Ngô đại cáo, Hịch tướng sĩ văn đều là thiên cổ hùng văn mà không phải mọi bài cáo, hịch đều như vậy. Thứ ba : chất văn học của chúng không nằm khít trong quy phạm thể loại, mà nằm trong xu thế siêu việt các quy phạm ấy. Người trung đại thích noi theo, vay mượn các chất liệu truyền thống (cốt truyện, điển cố,…) nhưng chính họ cũng thích đổi mới. Xem tên các tác phẩm truyện Nôm có chữ “tân” càng thấy rõ điều này : Bướm hoa tân truyện, Cai Vàng tân truyện, Chàng Chuối tân truyện, Đổng Thiên Vương tân truyện, Hàn Lạc tân truyện, Hoàng Tú tân truyện, Lưu Nguyễn nhập thiên thai tân truyện, Ngọc Kiều Lê tân truyện, Nam vô tân truyện, Nam ca tân truyện, Nguyễn Đạt, Nguyễn Sinh tân truyện, Phù Dung tân truyện, Phong tình tân truyện, Quả báo tân truyện, Sơ kính tân trang, Tấm Cám tân ca, Đoạn trường tân thanh, Trê Cóc tân truyện, v.v. Với chữ “tân” trong nhan đề tác giả khẳng định và thông báo cho người đọc tính sáng tạo của mình. Và do đó, thứ tư : nghiên cứu, phân loại tác phẩm văn học trung đại không thể tuân thủ giản đơn nguyên tắc phân loại cổ điển có từ thời cổ đại : tự sự, trữ tình, kịch, bởi đó là các phương thức biểu hiện thuần tuý được phân hoá từ nghệ thuật nguyên hợp cổ đại. Ở đây, cần tôn trọng sự tạo thành tự nhiên của các thể loại và tên gọi của chúng, đồng thời coi trọng cấu tạo loại văn, tiến hành miêu tả, phân tích đặc trưng nghệ thuật của chúng. Do đó, theo chúng tôi, việc giới thiệu, mô tả sự xuất hiện các thể loại văn học trong trật tự thời gian lịch sử như các sách Việt Nam cổ văn học sử (Nguyễn Đổng Chi, 1944), Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX (Niculin, 1977) và các sách của các nhà nghiên cứu Việt Nam khác là hợp lý và khoa học. Nhưng mặt khác, việc xác định đặc trưng thể loại không thể chỉ theo hình thức quy phạm cổ truyền, mà cần xét chúng trong tính nội dung nghệ thuật, chức năng biểu đạt theo cấu trúc của văn bản biểu hiện.

3. Cho đến nay một hệ thống phân loại văn học trung đại hợp lý, hoàn bị, được giới khoa học thừa nhận vẫn chưa có. Tuy vậy, các nhà khoa học vẫn tìm tòi không mệt mỏi và đề xuất các phương án khác nhau.

Nguyễn Huệ Chi trong bộ sách lớn Thơ văn Lý – Trần của Viện Văn học đã đề xuất mô hình phân thành năm loại như sau :

– Thơ sấm vĩ

THƠ CA
- Thơ suy lý
- Thơ trữ tình
- Thơ tự sự
- Phú
BIỀN VĂN
- Hịch, cáo
- Chiếu chế
- Biến tấu
VĂN BÌNH LUẬN
- Tản văn: - Văn thư tính
                 - Văn ngữ lục
- Tạp văn: Luận thuyết tôn giáo
- Truyện kể: - Truyện
                    - Sử
                    - Bi kí [5]

Đây là phân loại theo hình thức tổ chức ngôn từ là chính, phù hợp với đặc trưng của văn học trung đại. Theo chúng tôi, nếu ghép ba loại văn : biền văn, tản văn, tạp văn vào một loại văn thì sẽ có sức bao quát hơn thành ba loại lớn : thơ, văn, truyện.

Năm 1976, Bùi Duy Tân trong một bài tiểu luận trên Tạp chí Văn học đề nghị hai cách chia thể loại văn học viết trung đại. Cách 1 : Các thể loại trữ tình, gồm thơ trữ tình, phú, từ, khúc ngâm, vãn ca, văn tế, ký trữ tình,… Các thể loại tự sự : gồm thơ tự sự, truyện thơ, thơ trường thiên lịch sử, truyện ký, giai thoại, truyện cười, văn chép sử, thực lục, tuỳ bút, tạp lục, kiến văn. Các thể loại chính luận gồm thơ triết học, văn triết học, văn chương chính luận, sớ, tấu, cáo, chiếu, hịch,… Cách 2 : Văn vần gồm thơ (trữ tình, tự sự, ngụ ngôn, triết lý, trào phúng,…) truyện thơ, vãn, ca, vè… Văn biền ngẫu gồm hịch, cáo, phú, văn tế, biểu,… Văn xuôi, gồm văn chép sử, thực lục, tuỳ bút, tạp lục, thư, sớ, tấu, giai thoại,… Tác giả Bùi Duy Tân nghiêng về cách thứ hai. Theo chúng tôi, cách 1 sử dụng cách chia cổ điển phương Tây kết hợp với loại chính luận đã thể hiện sự phân hoá chiều sâu. Cách 2 chỉ dựa vào đặc điểm bề ngoài của văn mà chia cho nên tuy nhất quán hơn, song chưa phản ánh được sự phân hoá thể loại nội tại. Do đó chúng tôi thiên về cách kết hợp cả hai cách. Loại thơ ngoài hình thức thơ, lấy nội dung trữ tình làm chính. Loại văn gồm của biền văn và tản văn, bao gồm các tác phẩm không có cốt truyện, đặc biệt là văn chính luận. Loại truyện lấy sự kiện cốt truyện làm chính, bất kể là văn hay thơ.

Gần đây xuất hiện cách phân loại tác phẩm theo phương thức định hình văn bản. Theo phương thức, phương tiện định hình văn bản này, có thể chia ra : văn bản viết tay, văn bản khắc, văn bản in ; và đã xuất bản tập Văn khắc Hán – Nôm Việt Nam([6]). Văn khắc bao gồm một phạm vi rộng, chẳng những bao hàm từ bia, minh, đối, liễn, biểu, v.v. mà còn bao gồm cả thơ đề vịnh xướng hoạ khắc trên các di tích, hang động,… Văn khắc tồn tại ở những nơi sinh hoạt công cộng như đình, chùa, đền, miếu, từ đường, văn chỉ, vũ chỉ, cầu, điếm, chợ,… Cách phân loại này do Iu.V. Rôgiơđétxtvenxki gợi ý([7]) và nó cho thấy một phần phương thức tồn tại, lưu trữ của văn học trung đại trong không gian, thời gian. Cách phân loại này tất yếu sẽ nêu lên một số thể loại đặc biệt mà cho đến nay vẫn còn ít được nghiên cứu và chưa có vị trí trong văn học sử – đó là câu đối và hoành phi, những thể loại sáng tác không phải để chép vào sách !

Theo quan niệm của chúng tôi, như đã trình bày ở mục trên, văn học trung đại trước hết là văn chương của ngôn từ, là nghệ thuật của từ ngữ. Do đó việc phân loại văn học trung đại gắn liền với việc phân hoá về thể loại văn – hình thức mang nội dung cố định để tổ chức văn bản. Các tuyển tập thơ, văn ra đời từ đầu thế kỷ XV tiếp tục được củng cố bằng các tuyển tập hoặc hợp tuyển thơ văn thời sau này đã đánh dấu và củng cố ý thức văn thể trung đại đó. Do đó hệ thống thể loại văn học trung đại nên phân chia theo thơ, phú, văn, truyện, tuồngchèo. Nhưng văn học Việt Nam trung đại là văn học song ngữ, do đó có hai hệ thống thể loại xen nhau : Hán, Việt. Trong thơ có thơ chữ Hán với các hình thức thể loại vay mượn. Thơ tiếng Việt với các hình thức và thể loại được hình thành và chín muồi : lục bát, song thất lục bát. Đường luật, diễn ca, truyện Nôm, ngâm khúc, vãn, hát nói. Văn thì hầu như chỉ có văn chữ Hán, văn xuôi tiếng Việt đến thời hiện đại mới hình thành. Văn chữ Hán có thể chia làm hai loại : biền văn và tản văn. Biền văn được sử dụng vào các thể cáo, chiếu, biểu, bi, hịch, luận, phú, văn tế, câu đối, trần tình văn,… Tản văn (văn không sóng đôi với nhau) được dùng vào các thể tựa, bạt, ký, lục, thư, luận, thuyết, ngữ lục. Văn chữ Nôm hầu như chỉ có văn vần và biền ngẫu. Văn xuôi như bản dịch Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Thế Nghi hoặc Di văn chùa Dâu mà Nguyễn Quang Hồng phiên âm giới thiệu còn rất hiếm.

Truyện là hình thức tự sự có nhân vật và cốt truyện. Có truyện chữ Hán bằng văn xuôi như các loại thực lục, mạn lục, ngẫu lục, kỳ lục, dị lục, kỳ án, thư dị, chí dị, tuỳ bút, chí, tiểu thuyết, ký sự, tạp ký, dật sử, tiểu sử, tiểu truyện, có truyện bằng văn vần Nôm có tác giả và khuyết danh.

Về thể loại kịch có tuồng, chèo.

Bên cạnh hệ thống thể loại văn học viết, có thể loại văn học dân gian tồn tại lâu đời và có tác động lớn tới văn học viết.

5. Nhìn vào hệ thống thể loại văn học viết nói trên có thể nhận thấy rõ thêm một số đặc điểm có tính quy luật đặc thù.

a) Hệ thống thể loại văn học chữ Hán có trước thể loại văn học chữ Nôm. Đó là vì chữ Hán được sử dụng như một công cụ có sẵn để tổ chức chính quyền, do đáp ứng các hoạt động trong đời sống chính trị, xã hội, bang giao mà các thể loại văn học được hình thành. Đúng như Đ. Likhachốp có nói : “Thể loại văn học được xác định bởi công dụng của nó trong hành lễ tôn giáo, trong thực tiễn xét xử theo luật pháp, và trong bang giao, trong đời sống các vương công… Do đó thể loại văn học trung đại ngoài chức năng văn học còn có chức năng ngoài văn học”([8]). Nhà lý luận Đức H.R. Jaus cũng nói thể loại văn học trung đại bị quy định bởi vị trí của nó trong đời sống và do đó mà có chức năng riêng([9]). Như vậy thì chức năng ngoài văn học trước hết thể hiện trong các thể loại văn chữ Hán. Chữ Nôm do chưa chuẩn hoá, thống nhất hoá, không tiện sử dụng trong điều hành chính quyền, cho nên thể loại văn học Nôm ít khả năng mang chức năng ngoài văn học hơn. Thể loại văn học Nôm chủ yếu đáp ứng sinh hoạt phi quan phương cho nên sự xuất hiện của nó cũng đánh dấu sự phát triển của ý thức văn học dân tộc. Hai hệ thống thể loại văn học chữ Hán và chữ Nôm sẽ bổ sung cho nhau tạo thành một hệ thống thể loại văn học trung đại hoàn chỉnh. Hệ thống thể loại văn học chữ Hán biểu hiện cái mà hệ thống thể loại văn học chữ Nôm không làm được và ngược lại cũng vậy. Không thừa nhận thể loại văn học chữ Hán Việt Nam là một bộ phận của văn học Việt Nam là làm nghèo nền văn học Việt Nam, là bỏ ra ngoài một bộ phận mà cha ông ta lấy làm tự hào.

b) Do thể loại văn học chữ Hán trung đại của người Trung Quốc đã khá hoàn bị, cho nên sự tiếp thu hệ thống thể loại này ở văn học Việt Nam đã diễn ra một cách toàn diện. Người Việt Nam hầu như đã di thực toàn bộ thể loại văn học của văn học Trung Quốc vào Việt Nam với những quy mô và biến đổi khác nhau. Trước hết là các thể loại của sử học và các thể loại hành chính, sau đó là các thể loại thơ, phú và truyền kỳ, tiểu thuyết. Chính vì vậy mà cần thiết phải thường xuyên so sánh đối chiếu hệ thống thể loại văn học Trung Quốc cùng như sự biến đổi của chúng với hệ thống thể loại văn học chữ Hán của Việt Nam. So sánh một cách tổng quát, có lẽ chỉ có các thể loại Sở từ Nhạc phủ, các thể khúc gắn với sinh hoạt ca hát của người Trung Quốc là ít được di thực. Hệ thống cách đọc Hán Việt đã tạo điều kiện cho người Việt tiếp thu thuận lợi các thể loại Hán và luật lệ của chúng. Một sự nghiên cứu so sánh đi sâu rồi đây sẽ cho thấy đầy đủ sự khác biệt và tính sáng tạo của các thể loại văn học Hán Việt.

c) Các thể loại văn học trung đại, như mọi người đều biết, trước hết có chức năng ngoài văn học. Các chức năng đó một mặt làm chậm bước phát triển của văn học nghệ thuật như một nghệ thuật ngôn từ, nhưng mặt khác chức năng ngoài văn học cũng góp phần tạo thành nét đặc trưng của văn học trung đại. Chẳng hạn, sử học và các thể loại của sử học như bi, ký, lục, truyện, minh, chí, dật sự, dã sử với thể thức của chúng, tinh thần thực lục, bút pháp xuân thu của chúng đã ảnh hưởng tới diện mạo văn xuôi trung đại. Không thể nghiên cứu nghệ thuật văn xuôi mà không đối chiếu với các thể loại của sử. Thơ xưa làm không phải để xuất bản lĩnh nhuận bút mà chỉ là để dâng tặng mà bày tỏ chí (khen, chê, hoài bão), chức năng bao biếm, phúng gián, ngôn hoài gắn với yêu cầu giáo huấn, can dự đời sống. Người đọc thơ là “quan chí” (xem chí) mà trau đức. Do vậy thơ thống nhất với các thể loại tụng, tán, biểu, tấu, châm, giới, dụ. Do vậy thể loại văn học trung đại có một sự thống nhất nội tại trong chức năng nghệ thuật và thực dụng, mỹ học và xã hội học. Lâu nay nói tới hệ thống thể loại văn học trung đại các nhà nghiên cứu đã nói nhiều tới vai trò của văn học dân gian. Nhưng cần nói thêm về vai trò của văn học quan phương, các thể loại chức năng đối với việc tạo thành truyền thống văn học. Chức năng ngoài văn học cũng thúc đẩy sự phát sinh chức năng văn học. Cũng giống như có việc làm quan rồi mới có việc ở ẩn, có văn chương phụng sự triều chính rồi mới có văn chương nhàn tản, hướng về thiên nhiên, hưởng lạc. Cho nên văn học càng phát triển thì các thể loại quan phương, chức năng càng mất dần vị trí trong văn học sử, nhường chỗ cho các thể loại thuần tuý văn học. Chính vì như vậy chúng ta cần ghi nhận, miêu tả đầy đủ toàn bộ các thể loại văn học mang chức năng ngoài văn học, đặc biệt là các thể loại sử, luận, v.v.

d) Chức năng văn học và chức năng ngoài văn học phân biệt ở chỗ các thể loại văn học muốn viết lúc nào thì viết, có hứng thì mới viết còn thể loại mang chức năng ngoài văn học thì không có sự tự do đó : chép sử, lập bia, viết hịch, viết cáo, văn tế là do nhiệm vụ, tình thế buộc phải viết, không chờ phải có hứng mới làm. Thể loại văn học viết cho mọi người, không dành riêng cho ai, nhưng thể loại ngoài văn học thì phải viết theo địa chỉ nhất định : viết cho vua, cho thần dân, cho các tỳ tướng, cho tướng giặc. Thể loại văn học viết nhân danh con người nói chung, còn thể loại ngoài văn học phải xuất phát từ con người cụ thể, chức danh cụ thể như thần tử, thiên tử, chủ soái, sử thần,… Do đó vua, quan, tướng soái, sử thần, thần tử là tác giả của các thể loại mang chức năng ngoài văn học. Nhưng cũng các tác giả đó vào những lúc trà dư tửu hậu, lúc nhàn nhã, lúc ở ẩn dật họ sáng tác tự do, theo hứng thú riêng, nhân danh cá nhân mình thì lúc đó tác phẩm lại mang chức năng văn học. Cho nên, các tác phẩm loại “tức cảnh”, “tức hứng”, loại Công dư tiệp ký, Nam Ông mộng lục, Vũ trung tuỳ bút,… phải xem là tác phẩm văn học thuộc loại hình trung đại.

đ) Xét như vậy ta thấy chức năng ngoài văn học của thể loại văn học trung đại là một quy luật có thật, cần được xác nhận, song các thể loại thuần tuý ngoài văn học không nhiều, ngược lại các thể loại vừa mang chức năng văn học, vừa mang chức năng ngoài văn học là phổ biến. Chỉ một số không nhiều thể loại là mang chức năng thuần tuý văn học (phần nhiều thơ trữ tình, thể loại ngâm khúc, hát nói, truyện thơ Nôm, truyện truyền kỳ,…).

(Trích từ Trần Đình Sử  Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Hà Nội 1998.)


([1]) Văn chương học từ điển, tlđd.

([2]) Trung Quốc văn học sử, 4 tập, NXB Nhân dân văn học, Bắc Kinh, 1981.

([3]) Xem thêm : Trần Nho Thìn, Một vài vấn đề đặt ra xung quanh việc phân loại thư tịch của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, Tạp chí Văn học, số 4 – 1981.

([4]) Thư viện Quốc gia xuất bản năm 1970, NXB Khoa học xã hội tái bản năm 1988, 1990. Trong sách này Trần Văn Giáp chia ra các loại : lịch sử, địa lý, kỹ thuật, ngôn ngữ, văn tự, văn học, nghệ thuật, triết học, tôn giáo, sách tổng hợp. Nhưng việc xếp các tác phẩm cụ thể vào loại nào còn một số trường hợp chưa ổn.

([5]) Thơ văn Lý – Trần, NXB Khoa học xã hội, H., 1977, tập I, tr. 184.

([6]) Văn khắc Hán – Nôm Việt Nam, Nguyễn Quang Hồng chủ biên, NXB Khoa học xã hội, H., 1993.

([7]) Dẫn luận ngữ văn học đại cương, NXB Đại học Tổng hợp Mátxcơva, 1979.

([8]) Đ.X. Likhachốp, Thi pháp văn học Nga cổ, NXB Khoa học, M., 1979, tr. 55.

([9]) H.R. Jaus, Lý luận thể loại văn học trung đại trong sách Mỹ học tiếp nhận và lý luận tiếp nhận, NXB Nhân dân Liêu Ninh, Thẩm Dương, 1987, tr. 124.

Bình luận