LỊCH SỬ NƯỚC TA
Nguyên bản bài thơ
Bấm vào từng đoạn để xem phân tíchDân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Kể năm hơn bốn ngàn năm
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa.
Hồng Bàng là tổ nước ta
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang
Thiếu niên ta rất vẻ vang
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
Tuổi tuy chưa đến chín mười
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương,
An Dương Vương thế Hùng Vương
Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân
Nước Tàu cậy thế đông người
Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam
Quân Tàu nhiều kẻ tham lam
Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?
Hai Bà Trưng có đại tài
Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian
Ra tay khôi phục giang san
Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta
Tỉnh Thanh Hóa có một bà,
Tên là Triệu Ấu, tuổi vừa đôi mươi.
Tài năng dũng cảm hơn người,
Khởi binh cứu nước, muôn đời lưu phương.
Phụ nữ ta chẳng tầm thường
Đánh đông, dẹp Bắc làm gương để đời.
Kể gần sáu trăm năm giời
Ta không đoàn kết bị người tính thôn.
Anh hùng thay ông Lý Bôn
Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người
Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài
Lập nên triều Lý sáu mươi năm liền
Vì Lý Phật Tử ngu hèn
Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta .
Thương dân cực khổ xót xa
Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu .
Vì dân đoàn kết chưa sâu
Cho nên thất bại trước sau mấy lần.
Ngô Quyền quê ở Đường Lâm
Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.
Đến hồi thập nhị sứ quân
Bốn phương loạn lac, muôn dân cơ hàn.
Động Hoa Lư có Tiên Hoàng
Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
Ra tài kiến thiết kinh dinh,
Đến Vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.
Lê Đại Hành nối lên ngôi
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.
Vì con bạo ngược hoành hành
Ba đời thì đã tan tành nghiệp vương.
Công Uẩn là kẻ phi thường
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.
Mở mang văn hóa nước nhà
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.
Lý Thường Kiệt là hiền thần
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.
Tuổi già phỉ chí công danh
Mà lòng yêu nước trung thành không phai.
Họ Lý truyền được chín đời
Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.
Nhà Trần thống trị giang san,
Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,
Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:
Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu,
Tung hoàng chiếm nửa Âu châu
Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,
Lăm le muốn chiếm nước ta
Nam mươi vạn lính vượt qua biên thùy,
Hải quân theo bể kéo đi,
Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nêm.
Dân ta nào có chịu hèn
Đồng tâm hiệp lực mấy phen đuổi Tàu.
Mênh mông một dải Bạch Đằng
Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,
Hai lần đại phá Nguyên binh,
Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.
Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
Thât là một đấng anh hùng
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo
Đời Trần văn giỏi võ nhiều
Ngoài dân thịnh vượng trong triều hiền minh
Mười hai đời được hiển vinh,
Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.
Cha con nhà Hồ Quý Ly,
Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.
Tình hình trong nước không yên,
Tàu qua xâm chiếm giữ quyền bấy lâu,
Bao nhiêu của cải trân châu,
Chúng vơ vét trở về tàu sạch trơn.
Lê Lợi kởi nghĩa Lam Sơn,
Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.
Mấy phen sông Nhị núi Lam,
Thanh gươm, yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.
Kìa Túy Động nọ Chi Lăng,
Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành,
Mười năm sự ngiệp hoàn thành,
Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.
Vì dân hăng hái kết đoàn,
Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.
Vua hiền có Lê Thánh Tôn,
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.
Trăn năm truyền đến cung hoàng,
Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi.
Bấy giờ trong nước lôi thôi,
Lê Nam, Mạc Bắc rạch đôi sơn hà,
Bảy mươi năm vạn can qua
Cuối đời mười sáu Mạc đà suy vi.
Từ đời mười sáu trở đi,
Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu
Nguyễn Nam Trịnh Bắc đánh nhau,
Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.
Dân gan có kẻ anh hùng,
Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,
Đóng đô ở đất Quy Nhơn,
Đánh tan Trịnh, Nguyễn cứu dân đảo huyền
Nhà Lê cũng bị mất quyền,
Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương.
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng,
Cho nên Tàu dẫu làm hung,
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.
Tướng Tây Sơn có một bà,
Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân,
Tay bà thống đốc ba quân,
Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.
Gia Long lại dấy can qua,
Bi Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu tính bài giải vây.
Nay ta mất nước thế này
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả thiệt là ngu si.
Từ năm Tân Hợi trở đi,
Tây đà gây chuyện thị phi với mình
Vậy mà vua chúa triều đình
Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
Nay ta nước mất nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.
Năm Tự Đức thập nhất niên,
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.
Hăm lăm năm sau trận này,
Trung Kỳ mất, Bắc Kỳ cũng tan,
Ngàn năm gấm vóc giang san,
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!
Tội kia càng đắp càng đầy,
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Nước ta nhiều kẻ tôi trung,
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.
Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,
Cùng thành còn mất làm gương để đời.
Nước ta bị Pháp cướp rồi,
Ngọn cờ khởi nghĩa nghiều nơi lẫy lừng;
Trung Kỳ Đảng Phan Đình Phùng
Ra tay đánh Pháp vẫy vùng một phương.
Mấy năm ra sức Cần Vương,
Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,
Giang san độc lập một miền,
Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.
Anh em khố đỏ, khố xanh,
Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,
Tỉnh Thái nguyên với Sầm Nưa
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.
Kìa Yên Bái nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang toàn cầu.
Nam Kỳ im lặng đã lâu,
Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây
Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!
Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn
Xét trong lịch sử Việt Nam,
Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
Nhiều phen đánh Bắc dẹp Đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.
Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
Vì ta chỉ biết lo yên một mình.
Để người đè nén, xem khinh,
Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!
Bây giờ Pháp mất nước rồi,
Không đủ sức, không đủ người trị ta.
Giặc Nhật Bản thì mới qua;
Cái nền thống trị chưa ra mối mành,
Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,
Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.
Ấy là dịp tốt cho ta,
Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông,
Người chúng ít, người mình đông
Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.
Hới ai con cháu Rồng Tiên!
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.
Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.
Người giúp sức, kẻ giúp tiền,
Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh,
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành
Rõ tên Nam Việt rạng danh Lạc Hồng
Dân ta xin nhớ chữ đồng;
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh !
Phân tích phân đoạn chuyên sâu
Chế độ phân tích khoa họcTuyên ngôn chân lý tối thượng của một dân tộc
Cặp câu mở đầu tác phẩm không đơn thuần là một lời khuyên, mà là một định lý mang tính chân lý tuyệt đối của lịch sử dân tộc. Nguyễn Ái Quốc dùng cấu trúc "Dân ta - sử ta" để khẳng định mối liên hệ hữu cơ, gắn kết chặt chẽ giữa chủ thể của đất nước và kho tàng tri thức lịch sử của cha ông.
"Dân ta phải biết sử ta / Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam"
Chữ "Phải biết" là một mệnh lệnh mang tính đạo lý, một trách nhiệm công dân bắt buộc chứ không phải lựa chọn sở thích. Đồng thời, "cho tường" đòi hỏi việc nắm bắt lịch sử một cách thấu đáo, tường tận ngọn ngành của "gốc tích" - tức cội nguồn, bản sắc và các giá trị cốt lõi làm nên sức sống trường tồn của non sông. Con số "hơn bốn ngàn năm" dựng nước được nhắc tới lập tức định hình một niềm tự tôn dân tộc to lớn, làm bàn đạp tinh thần cho toàn bộ phong trào cách mạng.
Thời dựng nước & Buổi đầu chống Bắc thuộc hào hùng
Ở phân đoạn này, Hồ Chí Minh đã tóm tắt cô đọng buổi bình minh của lịch sử Việt Nam bằng những biểu tượng đầy sức nặng cứu quốc. Mở đầu là tổ tiên Hồng Bàng kiến tạo quốc gia Văn Lang, tiếp nối là huyền thoại anh hùng thiếu niên Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương).
Bằng cách ca ngợi em bé Phù Đổng dũng mãnh dù tuổi chưa đến "chín mười", Người gửi đi một thông điệp tuyên truyền nhạy bén và mạnh mẽ: Sự nghiệp cứu nước không phân biệt tuổi tác, thế hệ trẻ và thiếu nhi Việt Nam hoàn toàn có thể và cần phải ra tay dẹp loạn giặc ngoại xâm.
Khi giặc Tàu (phong kiến phương Bắc) cậy thế đông người hòng nô dịch đất nước, bản lĩnh kiên cường cứu nước đã trỗi dậy. Bác ca ngợi tài năng dũng cảm phi thường của Hai Bà Trưng và bà Triệu Ấu (Bà Triệu). Sự tôn vinh xuất sắc này chứng minh tư tưởng cách mạng tiến bộ mang tầm thời đại của Người: Phụ nữ Việt Nam có vai trò quyết định, anh dũng không thua kém nam giới, luôn đứng ở tuyến đầu gánh vác sứ mệnh giang sơn.
Bài học sâu sắc về Đoàn kết qua các Triều đại Độc lập tự chủ
Dưới góc nhìn duy vật lịch sử sắc bén, tác giả không ngần ngại chỉ rõ các bài học thắng bại gắn liền trực tiếp với khối đại đoàn kết toàn dân:
- Lý Bôn (Lý Nam Đế): Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài lập ra nhà Tiền Lý anh dũng, nhưng sau đó vì "Lý Phật Tử ngu hèn" mất đoàn kết mà khiến đất nước rơi lại vào ách Bắc thuộc.
- Mai Hắc Đế: Dựng cờ nghĩa vì thương dân cực khổ, nhưng cuối cùng bại trận chỉ vì "Vì dân đoàn kết chưa sâu".
- Ngô Quyền: Với chiến thắng Bạch Đằng vang dội, đưa nhân dân thoát khỏi nghìn năm tăm tối.
- Nhà Trần: Đây chính là biểu tượng rực rỡ nhất về sức mạnh đoàn kết. Dù quân Nguyên Mông tung hoành khắp Á - Âu, sở hữu 50 vạn tinh binh vây kín Bắc Kỳ, dân tộc ta vẫn thắng lợi vẻ vang nhờ "Đồng tâm hiệp lực mấy phen đuổi Tàu".
Bác dành riêng những câu thơ ca ngợi tấm gương anh hùng trẻ tuổi Trần Quốc Toản bóp nát quả cam, dũng cảm chiến thắng giặc Nguyên để thôi thúc thanh thiếu niên thời kỳ 1941 noi theo. Qua triều Lý với Lý Thường Kiệt, triều Trần kiêu hùng, bài học xuyên suốt vẫn là lòng yêu nước trung thành và sức mạnh của sự đồng tâm nhất trí của toàn dân.
Họa xâm lăng thời Minh và Sự phục hưng oanh liệt của Khởi nghĩa Lam Sơn
Khi nhà Trần suy vi, cha con Hồ Quý Ly chiếm ngôi nhưng vì không xây dựng được khối đoàn kết lòng dân vững chắc nên đã dẫn đến thảm cảnh mất nước vào tay nhà Minh. Quân Minh tàn bạo vơ vét tận diệt của cải nhân dân ta.
Trong bối cảnh tối tăm đó, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn. Dù lúc đầu thế cô lực mỏng ("tướng ít binh đơn") nhưng bằng tinh thần bền bỉ mười năm nếm mật nằm gai, kết đoàn một lòng cùng nhân dân, nghĩa quân Lam Sơn đã lập nên những kỳ tích lịch sử tại Tốt Động (Túy Động) và Chi Lăng, quét sạch 20 vạn quân Minh.
"Vì dân hăng hái kết đoàn,
Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng."
Hồ Chí Minh một lần nữa đúc kết nguyên nhân cốt lõi dẫn đến chiến thắng phục quốc vĩ đại này: Chính sự hăng hái kết đoàn của nhân dân là chiếc chìa khóa vạn năng mở ra nền độc lập.
Nỗi đau chia cắt giang sơn & Chiến công hiển hách của Phong trào Tây Sơn
Giai đoạn Hậu Lê suy thoái, đất nước rơi vào họa cát cứ Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn phân tranh đau lòng. Trước thảm cảnh nhân dân lầm than, những người anh hùng áo vải Tây Sơn dẫn đầu là Nguyễn Nhạc, đặc biệt là thiên tài quân sự Nguyễn Huệ (Quang Trung) đã nổi dậy.
Quang Trung hiện lên trong diễn ca lịch sử như một biểu tượng anh hùng kiệt xuất "phi thường", đánh tan thế lực phản động trong nước và quét sạch giặc Xiêm, giặc Thanh xâm lược. Bác nhấn mạnh bí quyết chiến thắng giặc Thanh dù chúng rất hung hãn:
"Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng."
Sự kết hợp giữa "chí cả mưu cao" của người lãnh đạo và "cùng nhau một lòng" của nhân dân tạo thành sức mạnh bất bại bảo vệ non sông. Đặc biệt, Bác ghi nhận tài năng thống lĩnh quân đội lỗi lạc của nữ tướng Bùi Thị Xuân để một lần nữa tôn vinh truyền thống anh hùng của phụ nữ nước nhà.
Bản án đanh thép tội trạng triều Nguyễn và Nỗi đau mất nước vào tay thực dân Pháp
Bằng thái độ cực kỳ quyết liệt, công minh và đậm chất hiện thực, Hồ Chí Minh đã vạch trần tội ác bán nước của nhà Nguyễn. Người lên án gay gắt hành động phản bội của Gia Long khi cầu viện ngoại bang giải vây:
"Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả thiệt là ngu si."
Bác dùng những thành ngữ dân gian vô cùng đanh thép và trực diện như "cõng rắn cắn gà", "rước voi giày mả" để phán xét hành vi rước quân xâm lược Pháp phá hoại giang sơn. Sự bảo thủ, kiêu ngạo hão huyền của vua chúa triều Nguyễn ("khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan") cùng sự hèn nhát dâng nộp Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ đã đẩy cả dân tộc vào kiếp nô lệ tăm tối. Đoạn thơ chứa đầy nỗi uất hận và nỗi đau đớn xót xa tột cùng trước cảnh "ngàn năm gấm vóc giang san, bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!".
Mạch ngầm yêu nước bất diệt và Sự kế thừa oanh liệt
Mặc dù triều đình nhà Nguyễn đầu hàng nhu nhược, nhưng ngọn lửa yêu nước của quần chúng nhân dân và các sĩ phu trung kiên chưa từng lụi tàn. Tác giả đã trang trọng phác họa một tượng đài bất tử để tôn vinh tinh thần xả thân vì nước của Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu.
Tiếp theo là hàng loạt phong trào kháng Pháp liên tiếp bùng lên rực rỡ ở cả ba miền:
- Phong trào Cần Vương của vị anh hùng Phan Đình Phùng tại miền Trung.
- Bãi Sậy kiên cường của Nguyễn Thiện Thuật (Tán Thuật) tại Hưng Yên.
- Phong trào Yên Thế oanh liệt, độc lập một miền của Hoàng Hoa Thám.
- Binh biến Hà Thành, các cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên, Sầm Nưa, đặc biệt là tiếng sấm Yên Bái và phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh vang dội toàn cầu.
Bác kết nối trực tiếp các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Đô Lương, Nam Kỳ thời bấy giờ nhằm chứng minh: Dòng máu anh hùng chống ngoại xâm của tổ tiên vẫn đang cuồn cuộn chảy trong huyết quản của thế hệ hiện tại, sẵn sàng bùng cháy khi thời cơ tới.
Bài học lịch sử thời đại & Lời hiệu triệu vĩ đại của Mặt trận Việt Minh
Trở về với hiện tại lịch sử (năm 1941 - 1942), Hồ Chí Minh dùng tư duy khoa học biện chứng của một nhà cách mạng thiên tài để mổ xẻ nguyên nhân vì sao một đất nước có truyền thống oanh liệt "con Rồng cháu Tiên" lại rơi vào cảnh "nghèo hèn" nô lệ:
"Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
Vì ta chỉ biết lo yên một mình."
Đó là lời phê phán trực diện, sâu sắc tư tưởng an phận, chia rẽ, ích kỷ của mỗi cá nhân. Từ đó, Người vạch ra thời cơ ngàn năm có một khi Thế chiến II làm suy yếu Pháp và Nhật chưa vững chân đế thống trị. Người kêu gọi toàn dân đồng lòng đứng dậy dưới ngọn cờ lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh.
Bài thơ thăng hoa rực rỡ và khép lại bằng lời hiệu triệu lay động trái tim của hàng triệu đồng bào: "Dân ta xin nhớ chữ đồng; Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!". Sự lặp lại dồn dập của bốn chữ "Đồng" tạo ra một sức nặng tinh thần vĩ đại, biến lịch sử thành bệ phóng cho thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 sau đó.
LỊCH SỬ NƯỚC TA
Hồ Chí Minh
Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Kể năm hơn bốn ngàn năm
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa.
Hồng Bàng là tổ nước ta
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang
Thiếu niên ta rất vẻ vang
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
Tuổi tuy chưa đến chín mười
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương,
An Dương Vương thế Hùng Vương
Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân
Nước Tàu cậy thế đông người
Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam
Quân Tàu nhiều kẻ tham lam
Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?
Hai Bà Trưng có đại tài
Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian
Ra tay khôi phục giang san
Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta
Tỉnh Thanh Hóa có một bà,
Tên là Triệu Ấu, tuổi vừa đôi mươi.
Tài năng dũng cảm hơn người,
Khởi binh cứu nước, muôn đời lưu phương.
Phụ nữ ta chẳng tầm thường
Đánh đông, dẹp Bắc làm gương để đời.
Kể gần sáu trăm năm giời
Ta không đoàn kết bị người tính thôn.
Anh hùng thay ông Lý Bôn
Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người
Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài
Lập nên triều Lý sáu mươi năm liền
Vì Lý Phật Tử ngu hèn
Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta .
Thương dân cực khổ xót xa
Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu .
Vì dân đoàn kết chưa sâu
Cho nên thất bại trước sau mấy lần.
Ngô Quyền quê ở Đường Lâm
Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.
Đến hồi thập nhị sứ quân
Bốn phương loạn lac, muôn dân cơ hàn.
Động Hoa Lư có Tiên Hoàng
Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
Ra tài kiến thiết kinh dinh,
Đến Vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.
Lê Đại Hành nối lên ngôi
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.
Vì con bạo ngược hoành hành
Ba đời thì đã tan tành nghiệp vương.
Công Uẩn là kẻ phi thường
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.
Mở mang văn hóa nước nhà
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.
Lý Thường Kiệt là hiền thần
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.
Tuổi già phỉ chí công danh
Mà lòng yêu nước trung thành không phai.
Họ Lý truyền được chín đời
Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.
Nhà Trần thống trị giang san,
Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,
Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:
Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu,
Tung hoàng chiếm nửa Âu châu
Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,
Lăm le muốn chiếm nước ta
Nam mươi vạn lính vượt qua biên thùy,
Hải quân theo bể kéo đi,
Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nêm.
Dân ta nào có chịu hèn
Đồng tâm hiệp lực mấy phen đuổi Tàu.
Mênh mông một dải Bạch Đằng
Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,
Hai lần đại phá Nguyên binh,
Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.
Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
Thât là một đấng anh hùng
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo
Đời Trần văn giỏi võ nhiều
Ngoài dân thịnh vượng trong triều hiền minh
Mười hai đời được hiển vinh,
Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.
Cha con nhà Hồ Quý Ly,
Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.
Tình hình trong nước không yên,
Tàu qua xâm chiếm giữ quyền bấy lâu,
Bao nhiêu của cải trân châu,
Chúng vơ vét trở về tàu sạch trơn.
Lê Lợi kởi nghĩa Lam Sơn,
Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.
Mấy phen sông Nhị núi Lam,
Thanh gươm, yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.
Kìa Túy Động nọ Chi Lăng,
Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành,
Mười năm sự ngiệp hoàn thành,
Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.
Vì dân hăng hái kết đoàn,
Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.
Vua hiền có Lê Thánh Tôn,
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.
Trăn năm truyền đến cung hoàng,
Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi.
Bấy giờ trong nước lôi thôi,
Lê Nam, Mạc Bắc rạch đôi sơn hà,
Bảy mươi năm vạn can qua
Cuối đời mười sáu Mạc đà suy vi.
Từ đời mười sáu trở đi,
Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu
Nguyễn Nam Trịnh Bắc đánh nhau,
Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.
Dân gan có kẻ anh hùng,
Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,
Đóng đô ở đất Quy Nhơn,
Đánh tan Trịnh, Nguyễn cứu dân đảo huyền
Nhà Lê cũng bị mất quyền,
Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương.
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng,
Cho nên Tàu dẫu làm hung,
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.
Tướng Tây Sơn có một bà,
Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân,
Tay bà thống đốc ba quân,
Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.
Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu tính bài giải vây.
Nay ta mất nước thế này
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả thiệt là ngu si.
Từ năm Tân Hợi trở đi,
Tây đà gây chuyện thị phi với mình
Vậy mà vua chúa triều đình
Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
Nay ta nước mất nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.
Năm Tự Đức thập nhất niên,
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.
Hăm lăm năm sau trận này,
Trung Kỳ mất, Bắc Kỳ cũng tan,
Ngàn năm gấm vóc giang san,
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!
Tội kia càng đắp càng đầy,
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Nước ta nhiều kẻ tôi trung,
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.
Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,
Cùng thành còn mất làm gương để đời.
Nước ta bị Pháp cướp rồi,
Ngọn cờ khởi nghĩa nghiều nơi lẫy lừng;
Trung Kỳ Đảng Phan Đình Phùng
Ra tay đánh Pháp vẫy vùng một phương.
Mấy năm ra sức Cần Vương,
Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,
Giang san độc lập một miền,
Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.
Anh em khố đỏ, khố xanh,
Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,
Tỉnh Thái nguyên với Sầm Nưa
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.
Kìa Yên Bái nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang toàn cầu.
Nam Kỳ im lặng đã lâu,
Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây
Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!
Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn
Xét trong lịch sử Việt Nam,
Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
Nhiều phen đánh Bắc dẹp Đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.
Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
Vì ta chỉ biết lo yên một mình.
Để người đè nén, xem khinh,
Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!
Bây giờ Pháp mất nước rồi,
Không đủ sức, không đủ người trị ta.
Giặc Nhật Bản thì mới qua;
Cái nền thống trị chưa ra mối mành,
Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,
Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.
Ấy là dịp tốt cho ta,
Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông,
Người chúng ít, người mình đông
Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.
Hới ai con cháu Rồng Tiên!
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.
Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.
Người giúp sức, kẻ giúp tiền,
Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh,
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành
Rõ tên Nam Việt rạng danh Lạc Hồng
Dân ta xin nhớ chữ đồng;
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh !
PHÂN TÍCH CHUYÊN SÂU TÁC PHẨM "LỊCH SỬ NƯỚC TA"
Đánh giá toàn diện giá trị lịch sử, tư tưởng cách mạng & giá trị nghệ thuật văn học
I. Hoàn cảnh sáng tác và Sứ mệnh Lịch sử
Tác phẩm "Lịch sử nước ta" ra đời vào một thời điểm vô cùng cam go nhưng cũng chứa đầy những biến chuyển thời cơ của cách mạng Việt Nam. Tháng 2 năm 1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt biên giới trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba hải ngoại. Tại hang Pác Bó (Cao Bằng), Người trực tiếp chủ trì Hội nghị Trung ương 8, thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết.
Để tập hợp được toàn bộ sức mạnh của nhân dân, đặc biệt là tầng lớp nông dân, công nhân ít chữ nghèo khổ, Người nhận thấy cần có một công cụ tuyên truyền vừa dễ hiểu, dễ thuộc vừa chứa đựng sức mạnh thôi thúc tinh thần mãnh liệt. Do đó, bài thơ diễn ca lịch sử dài 208 câu thơ lục bát đã được sáng tác và in ấn phát hành vào tháng 2 năm 1942. Tác phẩm mang sứ mệnh vĩ đại: Biến tri thức lịch sử hào hùng thành vũ khí cách mạng sắc bén để giải phóng đất nước.
II. Tư tưởng Chiến lược của Tác phẩm
Xuyên suốt 208 câu thơ, Hồ Chí Minh không biên soạn lịch sử theo lối thư tịch khô khan của các triều đại phong kiến xưa cũ. Trái lại, Người nhìn lịch sử thông qua lăng kính Duy vật lịch sử, trong đó nhân dân là chủ thể tạo ra lịch sử và sự đoàn kết là chìa khóa của mọi chiến thắng.
1. Quy luật chiến thắng: Sự Đồng lòng
Bất cứ thời kỳ nào lòng dân đồng thuận, toàn dân đoàn kết thì ngoại xâm dẫu mạnh thế nào cũng bị đánh đuổi. Bác dẫn chứng điển hình triều Trần ba lần đại phá Nguyên Mông oanh liệt nhờ "Đồng tâm hiệp lực", khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi vẻ vang "Vì dân hăng hái kết đoàn".
2. Quy luật thất bại: Sự Chia rẽ
Ngược lại, nếu lòng dân phân rã, người cầm quyền ngu hèn hoặc xa rời nhân dân sẽ lập tức chuốc lấy họa mất nước. Triều đại Mai Hắc Đế bại trận vì "Đoàn kết chưa sâu", nhà Hồ thất thế do "trong nước không yên" không được lòng dân chúng.
Đồng thời, tư tưởng tiến bộ của Người thể hiện qua việc đánh giá rất cao vai trò của phụ nữ trong tiến trình giữ nước (Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân), và việc nêu gương những anh hùng thiếu niên dũng cảm (Thánh Gióng, Trần Quốc Toản) để răn dạy, cổ vũ tinh thần của thanh thiếu nhi Việt Nam.
III. Bản án đanh thép Triều Nguyễn & Tiếng trống Cần Vương kháng Pháp
Hồ Chí Minh đã dành những vần thơ có giọng điệu vô cùng đanh thép, nghiêm khắc phê phán triều đại nhà Nguyễn – những kẻ đặt quyền lợi ích kỷ của dòng họ lên trên vận mệnh quốc gia. Người thẳng thừng vạch tội Gia Long khi "rước voi giày mả", "cõng rắn cắn gà" mở đường cho thực dân Pháp xâm lược. Sự bạc nhược, thiển cận của vua quan nhà Nguyễn ("khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan") đã khiến gấm vóc giang sơn ngàn năm bị đem hàng cho giặc Tây.
Nhưng, đối lập với sự đầu hàng hèn nhát của triều đình là khí phách trung liệt bất khuất của nhân dân và các sĩ phu yêu nước. Bác dựng lên một đài tượng niệm lịch sử uy nghiêm tôn vinh các trung thần Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương; ghi nhận tinh thần chiến đấu không mệt mỏi của Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám và các cuộc khởi nghĩa thời đại mới như khởi nghĩa Yên Bái, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, binh biến Đô Lương, khởi nghĩa Bắc Sơn... Mạch sử đấu tranh liên tục này khẳng định ý chí quật cường, khát vọng độc lập cháy bỏng của giống dòng Lạc Hồng.
IV. Giá trị Nghệ thuật vượt thời gian
Tác phẩm đạt tới sự thành công đỉnh cao nhờ sự kết hợp hài hòa giữa chất văn chính luận cách mạng sắc bén và thể thơ lục bát dân tộc mộc mạc:
- Thể thơ lục bát truyền thống: Gần gũi với ca dao, dân ca, có nhịp điệu uyển chuyển giúp quần chúng nhân dân dù mù chữ vẫn có thể nhanh chóng thuộc lòng qua truyền miệng.
- Ngôn ngữ giản dị, giàu tính hình tượng: Tránh xa lối viết sử hàn lâm phức tạp, Bác dùng lối nói bình dân nhất ("cõng rắn cắn gà", "rước voi giày mả", "tôi ngươi") để trò chuyện và cảm hóa quần chúng một cách tự nhiên nhất.
- Cấu trúc cô đọng thiên tài: Chỉ với vỏn vẹn 208 câu thơ lục bát, tác phẩm đã cô đọng một cách hệ thống, mạch lạc tiến trình 4.000 năm lịch sử dân tộc.
V. Kết luận & Tầm nhìn Tiên tri kỳ diệu
Bài thơ kết thúc bằng lời kêu gọi thành lập khối liên minh rộng khắp, không phân biệt nam nữ, già trẻ, giàu nghèo đứng dưới ngọn cờ Mặt trận Việt Minh. Bác đúc kết tất cả tinh túy của thắng lợi cách mạng vào bốn chữ "Đồng": "Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!".
Đặc biệt, ở cuốn sách xuất bản đầu tiên vào năm 1942, dưới bảng niên biểu lịch sử cuối trang, Hồ Chí Minh đã viết mốc lịch sử mang tính tiên tri kỳ diệu: "1945 - Việt Nam độc lập". Lịch sử đã chứng minh nhãn quan chính trị thiên tài của Người hoàn toàn chính xác khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra và giành thắng lợi vang dội, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đến tận ngày nay, tác phẩm vẫn là ngọn đuốc sáng rực rỡ soi lối cho lòng yêu nước và trách nhiệm của mọi thế hệ con cháu Rồng Tiên đối với sử vàng nước nhà.