CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG THƠ VĂN NGUYỄN CÔNG TRỨ - GS.TS Trần Đình Sử

Hệ thống cung cấp kho dữ liệu phân tích tác phẩm và trắc nghiệm chất lượng cao.

Hồ Hoàng Gia

LINK TẢI GOOGLE DRIVE

Nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam không thể bỏ qua phạm trù con người cá nhân,  bởi trong văn học không có vấn đề nào hứng thú hơn bản thân con người của nhà văn nhà thơ thể hiện trong sáng tác của họ. Con người của ai cũng đều chịu sự quy định của ý thức hệ, văn hóa của thời đại đang sống, nhưng con người cá thể trở thành cá nhân là do nó biết tự ý thức. Sự ý thức mỗi thời có một cấp độ. Theo Émil Durkhem thời nguyên thủy con người sống trong vô thức, dần dần, từ vô thức tập thể xuất hiện những cá nhân nổi bật, đó là các tù trưởng, tộc trưởng, anh hùng.  Họ nhận ra các anh hùng cá nhân bên ngoài qua thần thoại, rồi sau mới ý thức về mình. Sự xuất hiện của các cá nhân tinh thần trùng hợp với sự xuất hiện của các nền văn hoá lí tính hoá vào “thời đại Trục” (khoảng  VIII- II TCN, Karl Jaspers). Vào thời đại đó cả Tây lẫn Đông đều xuất hiện nhiều học giả, nhà tư tưởng lõi lạc cua nhân loại. Học giả Trung Quốc cho rằng thời cổ đại có ba dạng cá nhân. Theo nhà sử học Dư Anh Thời, đạo Thích tin cá nhân có thể tu tập, nổ lực cá nhân có thể giải thoát, quan niệm cá nhân tứ hải giai huynh đệ, nhưng đạo Thích vô quân vô phụ, không Tổ quốc, không gia đình, chỉ còn mỗi cá nhân lo diệt khổ, mà diệt khổ là diệt dục, thì cũng diệt luôn cá nhân, trở thành hồng trần vô ngã. Nho gia chủ trương tu thân, có kích thích cá nhân tích cực nhưng chỉ trong phạm vi sĩ đại phu, nhưng tu thân là con đường mài mòn, diệt ngã. Đạo gia theo triết gia Phùng Hữu Lan chủ trương tự do vượt mọi quy phạm, được nhiều người theo rất rộng rãi, nhưng nó chỉ có một con đường là trốn tránh xã hội. Đạo Dương Chu chủ trương  một chủ nghĩa duy ngã mà không làm hại kẻ khác. Đến đời Ngụy Tấn, khi nho giáo suy thoái đã có tư tưởng “nhân sinh quý thích chí”, buông thả tình cảm, hưởng thụ cảm giác trong chủ nghĩa hưởng lạc. Rồi đến các đời Minh Thanh có tư tưởng tâm học “tâm tức lí” thì ý thức cá nhân ngày một phóng túng, sâu sắc hơn. Ở Việt Nam từ thế kỉ XVIII trong các khúc ngâm, rồi đến  tư tưởng thương thân trong Truyện Kiều, tư tưởng “quý thân” “thương thân” đã thể hiện sâu sắc, làm cơ sở cho tư tưởng cá nhân phổ quát. Con người cá nhân trong thơ văn Nguyễn Công Trứ là hiện tượng rất nổi bật thuộc tầng lớp sĩ đại phu, mang những phương diện của cá nhân phổ quát. Theo tôi, con người cá nhân của ông thể hiện ở bốn phương diện sau đây.

1.Nguyễn Công Trứ và con đường công danh khẳng định cái Tôi tinh thần.

Nguyễn Công Trứ là một nhà nho  từ trong cội nguồn, ông biết rõ vị trí và con đường tiến thân của mình (Luận về kẻ sĩ), ông ý thức rõ sứ mệnh làm trai trong xã hội phong kiến (Vũ trụ chi gian giai phận sự – Nợ công danh,…), nhận thức rõ phận vị của mình trong xã hội : “Hay tám vạn tư mặc kệ, không quân thần phụ tử đếch ra người”. Công danh là con đường để cá nhân tự khẳng định mình. Công danh là một phạm trù lưỡng tính, vừa mang nội dung quốc gia xã hội, vừa mang nội dung cá nhân, thể hiện giá trị tinh thần của tồn tại con người, đồng thời mang giá trị hiện sinh của cá nhân đối với ông. Có công danh ấy là tồn tại trong xã hội, trong lịch sử, không công danh thì coi như không tồn tại, là cây cỏ hư nát vô nghĩa, tức là rơi vào hư vô. Mặc dù còn có thú ẩn dật hay thú ruộng vườn, nhưng phải đỗ đạt đàng hoàng thì các thú ấy mới thực sự có nghĩa. Từ xưa đã nhiều trang anh hùng hào kiệt sát thân để thành danh. Lưu danh là hình thức tự khẳng định cao nhất của cá nhân, trước hết là cá nhân lỗi lạc. Nguyễn Công Trứ đã ý thức rõ rệt : “Đã mang tiếng ở trong trời đất – Phải có danh gì với núi sông”, “Đã có thân thì phải có danh”, “Không công danh thì nát với cỏ cây”. Ông còn nói thích công danh cũng là đặc tính của con người, hoạ may chỉ có hoá công mới  không có ý thức công danh. Chí công danh không chỉ có giá trị hiện sinh mà còn có giá trị siêu việt, sáng tạo đưa con người vượt lên loại tầm thường để khẳng định trong chiều cao của chế độ đẳng cấp.  Nguyễn Công Trứ muốn nên danh trong sự nghiệp lớn của chế độ nên ông hăng hái bền chí theo đuổi. Chí công danh chính là chí khẳng định cái Tôi, vì nó làm cho cái Tôi có ý nghĩa, có giá trị lâu dài.

Xét về lịch sử thì con đường ấy chẳng có gì mới mẻ, nó là con đường mòn mà các nho sinh đã đi cả nghìn năm nay, nhưng sự thực hiện con đường đó đối với mõi cá nhân đã biến chủ thể thành cái Tôi có giá trị, có ý nghĩa đối với xã hội, gia đình, làng xã, được mọi người thừa nhận. Trước hết trong bối cảnh đương thời đó hầu như là con đường duy nhất, không có con đường khác, không có lựa chọn. Cho nên thái độ của ông là kiên trì, không bỏ dở. Từ năm 13 tuổi bắt đầu đi thi cho đến năm 42 tuổi ông mới đỗ giải nguyên, trong gần 30 năm dằng dặc đó, ông luôn đối mặt với tình thế hiện sinh. Hoặc là là thành danh, hoặc là nát với cỏ cây. Ông có lúc cũng vui cảnh nghèo, có lúc tính chuyện ẩn đật, có lúc tìm thú ruộng vườn như Đào Tiềm, nhưng ông vẫn đợi thời. Nếu ba năm có một khóa thi, thì ít nhất ông trải qua tám lần đi thi và lần thứ chín ông mới thi đỗ. Đó là chưa kể trong 30 năm ấy ông sống trong sự nghèo xác, đối mặt với thế thái nhân tình “gớm chết”,  với sự rủi may của số phận của con người. Tuy ông là con nhà gia thế, nhưng việc thi cử  chỉ một mình cá nhân ông đối diện. Trong gần 30 năm làm quan, ông nhiều lần lên voi xuống chó, nhưng ông đã thành công cả về lập công, lập đức, lập ngôn. Tuy vậy ông không đề cao các  mặt, ây, coi như “tuồng múa rối”. Ông chỉ thích cái danh ở phương diện nó khẳng định cái tôi tinh thần, còn phương diện danh lợi thực dụng thì ông chán ngắt.

2. Nguyễn Công Trứ là một nhà nho lệch chuẩn.

Nhưng Nguyễn Công Trứ đã không còn ý thức về sự tôn nghiêm, sự linh thiêng đã phụng sự một triều đại, một công nghiệp đáng tự hào, mà coi như “Múa rối mấy hồi coi giúp nước, Sống lâu bảy chục cũng ơn trời.” Sự tu thân theo con đường tu, tề, trị, bình không hủy diệt được cá tính của con người ông. Trong thơ ông không còn ý thức khắc kỷ phục lễ, an bần lạc đạo, trên kính dưới nhường, nói năng thận trọng, “ôn nhu đôn hậu”, theo đúng chuẩn nhà nho, mà coi xã hội như một môi trường, “một hí trường” để mình thi thố tài năng, là nơi ông tự khẳng định mình cho thiên hạ biết tay. Tuy là khẳng định “quân thần phụ từ” nhưng lại văng “đếch” một cách phi lễ. Ông căm ghét cái nghèo, “chém cha cái khó, chém cha cái khó” mỉa mai, nguyền rủa nó (Hàn nho phong vị phú). Ông ngâm đi ngâm lại câu “Nhân sinh quý thích chí”, nghĩa là đời người quý ở chỗ sống theo ý muốn của mình, lý tưởng của mình. Đây là câu nói của Trương Hàn (Quý Ưng) đời Tây Tấn, khi được mời làm quan đã nói: “Nhân sinh quý thích chí, việc gì mà phải đi xa ngàn dặm để làm quan.” Tất nhiên Nguyễn Công Trứ đã không bỏ quan, vì ông là nhà nho, chí của ông là muốn lập công để thành danh rồi được làm một danh sĩ phong lưu nhàn hạ, phú quý, hưởng thụ, hành lạc như các vị danh sĩ xưa. Nho giáo chủ trương thi, thơ ca “phát hồ tình, chỉ hồ lễ nghĩa.”(Thi đại tự) nghĩa là tình cảm nảy sinh không được vượt qua giới hạn của lễ nghĩa, nhưng Nguyễn Công Trứ  thì ngang tàng, không tiết chế, lúc nào cũng cứ “dương dương”, cứ “phơi phới” với đời (Ngất ngưỡng).

  Cần lưu ý là dưới những danh từ truyền thống như chí, công danh, phận sự,… Nguyễn Công Trứ đã lồng vào đó những nội dung của ý thức cá nhân, ngược với thánh hiền. Khổng Tử nói : “Kẻ sĩ chí ở đạo, nếu xấu hổ về nỗi áo  xấu cơm thô thì không thể cùng bàn bạc về đạo” (Lý nhân, Luận ngữ). Khổng Tử lại nói : “Người quân tử làm việc đời, không có gì là thích hay không thích, hợp với nghĩa thì làm”(Lý nhân, Luận ngữ). Nguyễn Công Trứ không chỉ nguyền rủa chữ cái nghèo, mà còn đề cao hai chữ “thích chí”, và chí của ông là chí được thi thố tài năng cá nhân, “Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ”, lấy việc nghèo khổ làm điều xấu xa, nhục nhã (Hàn nho phong vị phú), chí đặt ở chữ “nhàn”, ở chữ “phong lưu”, ở chữ “chơi”. Khổng Tử đối lập quân tử và tiểu nhân ở chỗ người quân tử chỉ chăm lo đạo đức cao thượng còn tiểu nhân chỉ chăm lo ăn sung mặc sướng. Nguyễn Công Trứ lại coi trọng cả hai : “Thú vui thú ném ngang vành tráng sĩ”, “Càng tài tử càng nhiều tình ái”,… Khổng Tử chủ trương sống khổ hạnh, xử thế nghiêm trang. Nguyễn Công Trứ xem đời là một cuộc chơi : “Đem ngàn vàng mua lấy tiếng cười – Phong lưu cho bõ kiếp người”. Có thể nói, dưới hình thức ngôn ngữ nhà nho, Nguyễn Công Trứ đã diễn đạt một ý thức cá nhân mới – thích chí, hành lạc, sống cho bõ đời, không tự gò bó trong các ràng buộc xã hội và nho giáo.Trong bài Chí khí anh hùng, cái nổi lên hàng đầu là một không gian vũ trụ dọc ngang, ngang dọc, tự do, không quân thần, cương thường, đối diện với trang nam nhi hùng tâm tráng chí. Hầu như ngoài cái ta của nhà thơ và vũ trụ ra không còn có gì khác nữa. Những nợ tang bồng, chí nam nhi, khát vọng như cánh buồm giữa trận cuồng phong, xẻ núi lấp sông,… không còn mang ý vị của câu thơ Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) : “Nam nhi vị liễu công danh trái – Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu” (Thuật hoài), mà chỉ là ý vị cá nhân : lập công danh cho mình, tự khẳng định mình trong vận hội chung – “Cho phỉ sức (mình) vẫy vùng trong bốn bể”. Đây quả là một tư tưởng mới mẻ của con người thời đại mà các khái niệm nho giáo chỉ là cái vỏ phải đạo. Ông tự coi mình là người “ngất ngưỡng”, nghĩa là người rời khỏi khuôn khổ, không đặt vừa vào khuôn khổ có sẵn nào hết. “Ở ông, cá nhân nổi bật át hẳn con người ép mình sống theo khuôn khổ.”(Trần Đình Hượu). Trong tư tưởng của nguyễn Công Trứ đã bao hàm một khát vọng sống tự do “thoát vòng cương tỏa”, mặc dù thơ văn ông toàn làm bằng chữ có sẵn, trong trí ông toàn chứa đựng các mô thức hành vi đã có sẵn muôn thuở, ông chẳng nghĩ ra được cái trò gì mới. Sống trong cương tỏa mà thoát vòng cương tỏa đã là một cá nhân rất mạnh mẽ.

Nhưng điều thú vị là Nguyễn Công Trứ xem chí công  danh như một cuộc chơi. Hẳn ông biết rõ công danh là đường vinh nhục. Nguyễn Trãi xưa đã nói : “Dưới công danh đeo khổ nhục”. Đó là điều không ai tránh khỏi. Nguyễn Công Trứ cũng nói : “Làm tài trai chi sợ áng công danh”. Nhưng ông xem vinh nhục là sự thường : “Cái vinh nhục, nhục vinh là đắp đổi”. Và xử thế ở đời như một cuộc chơi. Đây là thái độ khác hẳn thái độ của Gia Cát Lượng hay Phạm Ngũ Lão.

3. Sự hành lạc là hành vi đ cao giá trị của con người cá nhân.

Chủ trương và phương thức hành lạc của Nguyễn Công Trứ là nhàn thích, tài tình, cầm, kì, thi, họa nhìn chung là có sẵn từ muôn đời xưa, như các danh sĩ xưa, có gốc từ Đạo gia, đời Hán, đạt đỉnh điểm thời ngụy Tấn bên Tàu không có gì mới. Chủ trương hành lạc đã có trong bà nhạc phủ Tây môn hành, thơ 19 bài đời Hán, trong Tương tiến tửu của Lí Bạch, có trong thơ Oda của Horace ở cổ đại La mã. Lí do chữ nhàn là do đời người quá ngắn ngủi, lại bận rộn, bon chen, ước mong sống chậm, sống nhàn để thưởng thức khoái cảm cuộc sống, nó là một thứ tự nhiên chủ nghĩa. Cái mới của ông có vẻ như là trong hành lạc mọi người đều có thể được độc lập, tự do và bình đẳng như nhau, chống lại tư tưởng khắc kỉ của  Nho giáo, nhất là chống lại tư tưởng  “tồn thiên lí, diệt nhân dục” của Tống Nho, rõ ràng có khuynh hướng tiến bộ. Nhưng mặt khác ông quan niệm hành lạc là đặc quyền của tài tử, danh sĩ, “càng tài tử, càng nhiều tình ái”, “có yến yến hường hường mới thú”. “Yên hà”, “phong nguyệt”, “phong lưu” đều là nợ, nhưng không phải của chung mọi người. Nếu công danh là cái tự khẳng định mình bằng “hướng ngoại”, thì hành lạc là sự khẳng định bản thể của cá nhân. Nếu công danh là cách tự khẳng định cá nhân trong bất hủ với vô hạn thời gian thì hành lạc là việc tự khẳng định mình trong thời gian hữu hạn của đời người. Thậm chí “nhân sinh bất hành lạc, thiên tuế diệc vi thương.” nghĩa là nếu không hành lạc thì có sống nghìn năm cũng coi như chưa sống, phí đời. Hành lạc làm cho con người tự thân trở thành mục đích tự thân của con người. Công danh thỏa mãn cái tôi tinh thần thì hành lạc thỏa mãn cái tôi thân thể. Nguyễn Công Trứ rất quý đời. Khi nói đến đời người không  dùng cụm từ “trăm năm” như mọi người mà nói “ba vạn sáu nghìn ngày” là rất thâm thuý : Sự hưởng lạc phải tính từng ngày mới phải, “lúc thái bình hà nhật bất xuân phong”. Xuân phong đây có nghĩa là trạng thái hưng phấn, thỏa mãn. Ý này trong bài Trong trần mấy mặt làng chơi càng thấy rõ :

                        Trăm năm trong cõi người ta,

                        Xóc sổ tính ngày chơi đà được mấy.

Muốn thực hiện chí công danh thì phải đợi thời, sớm muộn tuỳ số phận, còn hưởng lạc thì tuỳ mình :

                      Cuộc hành lạc chơi bao là lãi đấy,

                       Nếu không chơi thiệt ấy ai bù.

Cần phải hiểu ý nghĩa của hành lạc đối với sự giải thoát của con người trong Nho giáo. Nhà nghiên cứu Nhật bản Đảo điền Kiền Thứ cho rằng, trong lí thuyết tâm học của Minh nho, chỉ có chữ Nhân dục là chỗ có thể mở ra một con đường để giải thoạt con người trong nho giáo.

Hơn nữa, muốn công danh thì phải “vào lồng” (Bài ca ngất ngưởng), còn hưởng lạc thì tự do tự tại : “Chen chúc lợi danh đà chán ngắt – Cúc tùng phong nguyệt mới vui sao”.

Ông lại là người đa tình, lại đắm đuối với tiếng ca tiếng hát tiếng đàn của  các cô ả đào. Để tự khẳng định nguyên tắc “quý thích chí” của mình, Nguyễn Công Trứ cũng đứng trên lẽ  được mất, khen chê, bất cần đàm luận :

            Được mất dương dương người thái thượng,

            Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Người thái thượng có lẽ là người cao nhất, như thái thượng lão quân, ngang bậc thánh, mà đã là người cao nhất thì được mất đối với họ là vô nghĩa. Đông phong là ngọn gió xuân, ấm áp, tượng trưng cho niềm hưng phấn của sức sống mạnh mẽ, ở đây nghĩa là hành lạc (hà nhật bất xuân phong), thì khen chê đối với nó cũng là vô nghĩa nốt. Nguyễn Công Trứ đã thấy mình ở vào cảnh giới tuyệt vời mà một con người có thể đạt tới được, một cảnh giới tự đầy đủ, tự thỏa mãn mà không ai có thể cấm đoán được.

Cái cách về làng cưỡi trên lưng bò vàng, cổ đeo lục lạc, sau lưng theo một đôi cô gái trẻ là hành động chướng tai gai mắt đối với thói tục, là một sự thách thức, buộc người đời phải thừa nhận cái “ngất ngưởng” của cá nhân thành đạt. Cái ý nghĩa đời  người của cá nhân, chỉ có cá nhân ấy biết, cảm thấy và kiêu hãnh mà người ngoài không thể nào hiểu được. Chữ “ta” của nguyễn Công Trứ bao hàm một cái Tôi rất to và rất riêng, rất tự hào, ngạo mạn và tự phụ :

            – Thú yên hà trời đất để riêng ta,

               Nào ai ai biết chăng là.

            – Trần ai ai dễ biết ai

            – Trần ai ai có kém ai

            – Thú sao dễ mấy ai hay

Nếu so chữ “ai” Nguyễn Du hay dùng trong Truyện Kiều thường dùng để chỉ mọi người, không trừ một ai, thì Nguyễn Công Trứ nói đến “ai” để khẳng định mình là một cá nhân hơn người, hết sức riêng tư, không được và không cần người đời biết, không khớp với khuôn thước có sẵn.

Cái tôi cá nhân của Nguyễn Công Trứ không phải không gây nên sự khó chịu cho chế độ đương thời. Ông đã nhiều lần bị cách chức, hạn chức, có lúc cách tuốt mọi chức, chỉ còn làm anh lính thú để đàn hặc, để làm cho ông nhụt chí, nhưng ông lại coi như không, không bất mãn, không hờn dỗi, không phản ứng. Bởi nhục vinh là đắp đổi, đời là một cuộc chơi. Lính thú thì làm lính thú! Cuối cùng lại được phục chức.

4. Hát nói như là hành khúc của cái tôi cá nhân

Nói đến cái tôi của Nguyễn Công Trứ không thể không nói đến hát nói và thi ca của ông. Nhiều nhà nghiên cứu như Phạm Thế Ngũ đã chê thơ của ông không hay, chữ thiếu chọn lọc, lời khẩu ngữ vào thơ, lại hiếm có hiện tượng ý tại ngôn ngoại, lại lổn nhổn chữ Hán chen chúc với chữ Nôm không dễ đọc. Hiện tượng đó đúng, bởi ông đâu có làm thơ theo kiểu thơ Dường mà đòi ý tại ngôn ngoại, thơ ông làm theo kiểu thơ Tống, nghĩa là thơ “lấy văn làm thơ” (dĩ văn vi thi”), vì thế thơ ông gần như nói, thơ nói lí. Thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ dùng nhiều câu sẵn của các danh gia đời Tống, nhưng tư tưởng nhiều khi ngược với họ. Thơ ông không cần có tứ, chỉ cần có ý là làm. Thơ hát nói là thơ nói, thơ văn xuôi, thơ nói lối, thơ tuyên bố, thơ tuyên ngôn, thơ diễn giải ý tứ, tình ý, thơ nói lí tự do, phóng túng. Vượt qua phong cách thơ Đường cũng là một cách làm cho thơ tự do. Thơ hát nói là thơ Hán Việt hợp dụng, chữ Hán, chữ Việt hỗn hợp pha trộn cùng nhau không phân biệt. Chẳng hạn, một đoạn trong bài Chữ nhàn:

Thị tại môn tiền náo,

Nguyệt lai môn hạ nhàn.

So lao tâm, lao lực cũng một đàn,

Người nhân thế muốn nhàn sao được

Nên phải giữ lấy nhàn làm trước,

Dẫu trời cho có tiếc cũng xin nài.

Cuộc nhân sinh chừng bảy tám chín mười mươi,

Mười năm trẻ, năm mươi già không kể,

Thoắt sinh ra thì đà khóc choé,

Trần có vui sao chẳng cười khì.

Khi hỉ lạc, khi ái dục, lúc sầu bi,

Chứa chi lắm một bầu nhân dục.

Tri túc tiện túc, hà thì túc,

Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thì nhàn.

Cầm kì thi tửu với giang san,

Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế.

Thơ hát nói của ông phần lớn là tiếng kêu gọi sống nhàn, sống gấp, theo thú ăn chơi cho thỏa kiếp người ngắn ngủi, chơi lấy kẻo già, chơi xuân kẻo hết xuân đi. Hát nói với nguyễn Công Trứ như là hành khúc, cung đàn của hành lạc. Hát nói là bài ca thức tỉnh kẻ không biết chơi.

Theo I. Kant, bất cứ lúc nào, hễ xem con người là mục đích, là giá trị, không phải là công cụ, thì lúc đó đã bắt đầu có ý thức cá nhân. Cá nhân làm có thành quả thì được hưởng, cá nhân làm sai thì tự chụ trách nhiệm (X. Siêu hình học đạo đức). Công danh, hành lạc, tự khẳng định mình của Nguyễn Công Trứ đều lấy cái tôi làm mục đích và giá trị của con người, đó chính là ý thức thức tỉnh cá nhân. Con người trong xã hội phong kiến dưới chế độ quân chủ là hết sức nhỏ bé, sự thức tỉnh ấy khiến con người cảm thấy có giá trị tự thân cho bản thân.

. Có thể nói Nguyễn Công Trứ đã đạt đến một thứ “chủ nghĩa cá nhân” trong ý nghĩa tốt đẹp nhất của từ đó. Đó là ý thức trách nhiệm sâu sắc đối với cuộc sống chỉ có một lần duy nhất của đời mình. Ông biết quý trong giá trị và tính độc đáo của nó và phát triển đến tận độ mọi cung bậc tài năng tư chất của mình về văn, về võ, về nghệ thuật, về ăn chơi, hành lạc mà không làm hại đến quyền lợi của nhà nước và của người khác. Ông kết hợp một cách hài hòa sự tự do cá nhân với việc phụng sự xã hội, tính độc lập tự chủ thúc đẩy cho sự phát triển của xã hội, mà không đối lập với nó như một thứ chủ nghĩa vị kỉ. Sự hài hòa giữa trách nhiệm và tính độc lập, sự tự phát triển và tính độc đáo, sự tôn trọng mọi giới hạn, tính độc lập trong quan niệm sống, sự hợp tác với người khác trong công việc và vui chơi. Nguyễn Công Trứ chỉ đề cao một loại cá nhân đặc quyền kiểu anh hùng, trượng phu, danh sĩ thời phong kiến, chứ chưa phải cá nhân phổ quát của con người trong xã hội. Đây chưa phải là chủ nghĩa cá nhân tư sản làm nền tảng cho tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của xã hội công hòa ở phương Tây. Đối với Nguyễn Công Trứ, ý thức cá nhân được khẳng định với ba phạm trù : công danh, hành lạc và cái ta hơn người, cái ta riêng tư, tự hào, tự cho là đầy đủ, tự trào. Tuy chưa phải là chủ nghĩa cá nhân theo nghĩa hiện đại, nhưng chúng tạo cho con người một sự hài hoà, tự tin, phong lưu, tự do, đứng trên mọi được mất, khen chê, trở thành một phong lưu danh sĩ. Đó là bước phát triển cao nhất của ý thức cá nhân mang nội dung phong phú, hài hoà trong văn học cổ điển Việt Nam.

Hà Nội, ngày 17- 4- 2026.

Tài liệu tham khảo:

  1. Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, nhiều tác giả. Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996.
  2. Đoàn Tử Huyến chủ biên, nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử. Nxb Nghệ An, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2008.
  3. Tagoleva T. A. Khái niệm cá nhân qua các thời đại, Tạp chí văn hóa xã hội, tạp chí Văn hóa và xã hội, số 1, 2017, tr. 109-119.
  4. Lưu Tái Phục, Lý Trạch Hậu, Chủ nghĩa cá nhân chìm nổi ở Trung Quốc. Bài ở trang mạng Ái tư tưởng.
  5. L. M. Batkin. Thời Phục hưng Ytalia. Đi tìm con người cá nhân, Nxb Khoa học, Moskva, 1989.
Bình luận