LINK FILE
Nam Cao được xem là đại diện xuất sắc nhất của văn học hiện thực ở chặng đường phát triển cuối cùng của khuynh hướng này. Trong những năm xã hội đen tối, đầy sóng gió, khi lưỡi kéo kiểm duyệt của quyền thực dân trở lại hà khắc, văn học hiện thực không còn quy rộng lớn như trước, không còn tính chiến đấu trực tiếp, mạnh mẽ như trước nhưng lại phát triển ở những hướng đề tài khác, với các hình thể khác và vươn lên một trình độ nghệ thuật mới. Thành tựu ấy có phần đóng góp không nhỏ của Nam Cao.
I. VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh năm 1915 trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (cũ), nay là xã Nhân Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Bút danh Nam Cao được ghép hai chữ đầu của tên huyện và tổng.
Nhà Nam Cao nghèo, làng Đại Hoàng quê hương nhà văn cũng rất nghèo. Đây là một làng nhỏ nằm bên bờ sông Châu Giang, đất nông nghiệp bình quân mỗi người dưới một sào. Trước Cách mạng, phần lớn đất đai lại nằm trong tay địa chủ, hào lí. Theo thống kê của UBND xã Nhân Hậu, trong hơn hai nghìn dân của xã trước Cách mạng, ngót 100 người đã phải bỏ đi bơ vơ kiếm sống nơi đất khách quê người.
Trong gia đình nghèo, đông con, Nam Cao là người duy nhất quy học hành tử tế, những tưởng thành chỗ dựa cho mọi người về : Nhưng cuộc sống đói nghèo và bệnh tật đã đeo đuổi Nam Cao từ khó còn nhỏ. Năm 1935, sau kì thi Thành chung bị trượt, Nam Cao vào Sài Gòn kiếm sống mang trong mình nhiều ước mơ và dự định lớn lao.
Nhưng bệnh tật vẫn không buông tha Nam Cao, buộc ông phải quê. Ở Sài Gòn trở về, Nam Cao tự học lại và thi đỗ Thành chung. Nam Cao lên Hà Nội dạy học cho một trường tư thục của một người. Và chính cuộc sống của anh giáo khổ trường tư nơi đây đã cho ông sự cảm nhận sâu sắc về thân phận người trí thức tiểu tư, về người xã hội cũ, sẽ trở thành chất liệu cho ông viết cuốn tiểu thuyết Sống mòn.
Năm 1943, Nam Cao gia nhập nhóm Văn hoá cứu quốc cùng một số nhà ăn như Tô Hoài, Nguyên Hồng Nguyễn Huy Tưởng Nguyễn Đình Thi...
Năm 1945, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, sau đó được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa xã.
Năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc tham gia công tác kháng chiến. Ông vừa biên tập cho báo Cứu quốc, Việt Bắc vừa làm cán bộ thông tin tuyên truyền. Năm 1948, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 11 năm 1951, Nam Cao tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp ở vùng địch hậu Liên khu III. Nhà văn có ý định nhân chuyến đi này ghé về làng quê mình, thu thập thêm tài liệu để viết một tác phẩm về quê hương trong Cách mạng và trong kháng chiến. Nhưng Nam Cao đã ngã xuống trên con đường công tác khi tài năng đương độ chín, khi bao dự định sáng tạo còn dang dở.
Cuộc đời Nam Cao mang nhiều nét tiêu biểu cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo trong xã hội cũ rồi đổi đời trong chế độ mới nhờ ánh sáng của cách mạng. Ông đã hi sinh với tư cách một nhà văn chiến sĩ, trong khao khát tiếp tục có nhiều đóng góp cho dân tộc, cho quê hương.
II. TƯ TƯỞNG VÀ TẦM NHÌN CỦA NAM CAO.
Nam Cao là nhà văn hiện thực lớn, có tư tưởng và tâm hồn lớn, có tầm nhìn xa rộng và tài năng lớn, và có đóng góp quan trọng vào tiến trình phát triển của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
1.“Sống tức là cảm giác và tư tưởng”
Nam Cao đề cao con người tư tưởng, coi trọng đời sống bên trong của con người, coi đó là nguyên nhân của những hành động bên ngoài. Với một quan niệm về con người như thế, ngòi bút Nam Cao có khuynh hướng tìm vào nội tâm, đi sâu vào đời sống tinh thần của con người, khám phá “con người trong con người”, dù là viết về người nông dân hay người trí thức. Đối với Nam Cao, cái quan trọng hơn cả trong nhiệm vụ phản ánh chân thật cuộc sống là cái chân thật của tư tưởng, của nội tâm nhân vật. Với tài năng bậc thầy, Nam Cao đã sử dụng đầy hiệu quả nhiều thủ pháp và biện pháp nghệ thuật để miêu tả tâm lý của nhân vật; mọi thủ pháp và biện pháp nghệ thuật của Nam Cao đều hướng tới việc thể hiện sâu sắc tâm lý con người được bộc lộ trong cuộc sống hằng ngày rất đỗi quen thuộc ở quanh ta, tạo nên một chủ nghĩa hiện thực tâm lý – đời thường mang đậm cá tính sáng tạo của Nam Cao.
Văn Nam Cao là tiếng nói của một con người mà vầng trán không bao giờ thanh thản còn tâm hồn thì nặng trĩu những suy tư. Ông là nhà văn suốt đời trăn trở, suy ngẫm xung quanh vấn đề về sự sống và cái chết về tinh thần của con người. Từ những chuyện vặt vãnh, những cảnh đời thường, tác phẩm của Nam Cao đã động chạm đến những vấn đề có tính chất nhân bản, đã đặt ra những vấn đề sâu sắc về cuộc sống, về thân phận con người, về vấn đề cải tạo xã hội, về tương lai của dân tộc và nhân loại. Nam Cao cũng thường rọi chiếu vào những chuyện vụn vặt, những chi tiết tâm lý một luồng ánh sáng rất mạnh của tư tưởng, bắt những chuyện vặt vãnh, những cảnh đời thường hàng ngày quen thuộc nói lên những ý nghĩa sâu sắc về con người, về cuộc sống và nghệ thuật, tạo nên một chủ nghĩa hiện thực tâm lý – triết lý rất Nam Cao. Dù viết về người nông dân hay trí thức, vượt lên trên ý nghĩa cụ thể của đề tài, những tác phẩm xuất sắc của Nam Cao có khả năng vươn tới những vấn đề triết học, khái quát những quy luật chung của cuộc sống như vật chất và ý thức, hoàn cảnh và con người, môi trường và tính cách, v.v… Điều đó đã tạo nên trong những trang truyện của Nam Cao cái giọng triết lý về đời, về kiếp, khi thì thâm trầm, sâu sắc, lúc lại pha chút hài hước, hóm hỉnh, độc đáo và thấm thía.
2. “Sống tức là thay đổi”
Nam Cao muốn khái quát nét tâm lý chung của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam: tâm lý trì trệ, sợ đổi thay. Một nét tâm lý được nảy sinh từ hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội của một nước nông nghiệp lạc hậu, bị kìm hãm lâu đời trong chế độ phong kiến, tạo nên những thói quen. “Không phải cái thói quen của riêng mình, nhưng mà là cái thói quen lưu truyền đã mấy đời, đến nỗi nó đã nhập vào máu chúng ta. Tư tưởng, tính tình, cảm giác, hành động của chúng ta đều khuôn theo những thói tục. Những lề lối sẵn trong thời đại chúng ta” (Sống mòn). Ngồi trên tàu từ Hà Nội về quê, biết chắc đời mình “sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra, ở một xó nhà quê”, nhưng Thứ vẫn buông xuôi, vẫn cứ để mặc con tàu mang đi. “Trên những bãi sông kia, trong những làng mạc, những khóm xanh xanh kia, có biết bao người sống như y, nhưng không bao giờ dám cưỡng lại đời mình. Đời họ là một đời tù đày. Nhưng cũng như một con trâu, họ vẫn cắm cúi kéo cày, ăn cỏ, chịu roi. Ở bên kia những cánh đồng bùn lầy, là rừng xanh, cuộc sống tự do, cỏ ngập sừng. Con trâu có lẽ cũng biết vậy, nhưng chẳng bao giờ nó dám đi, chẳng bao giờ nó dám dứt đứt sợi dây thừng. Cái gì giữ con trâu lại đồng bằng và ngăn người ta đến một cuộc đời rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn ? Ấy là thói quen, lòng sợ hãi sự đổi thay, sợ hãi những cái gì chưa tới (tôi nhấn mạnh – T.Đ.S)” (Sống mòn).
Khái quát nét tâm lý bảo thủ, trì trệ của dân tộc, dựng nên cả một xã hội, một thế giới bức bối, ngột ngạt trong bầu không khí “sống mòn”, Nam Cao đã thức tỉnh ý thức đổi thay, vượt thoát khỏi tình trạng “chết mòn” ở mỗi con người. Hơn một lần, trong tác phẩm của mình, Nam Cao thể hiện khát vọng đổi thay. Đổi thay những ràng buộc, vứt bỏ những “thói quen” kìm hãm sự phát triển của mỗi cá nhân, của cộng đồng, của cả dân tộc. Nam Cao khẳng định: “Sống tức là thay đổi”;“Thời thế đổi, lòng người đổi”. Thật là táo bạo khi Nam Cao mong muốn lọc máu cho cả dân tộc: “Thế kỷ sau sẽ lọc cho máu chúng ta trong trẻo lại”, và đầy trách nhiệm khi tự hỏi: “Nhưng tại sao ta lại không thể nghĩ đến chuyện lọc máu ta ngay từ giờ ?…” (Sống mòn). Ngay trong thời kỳ đen tối nhất, trong những hoàn cảnh bi thảm nhất, Nam Cao dẫu có bi quan nhưng vẫn không tuyệt vọng mà vẫn khao khát đổi thay: “Sự đời không thể cứ mù mịt mãi thế này đâu. Tương lai phải sáng sủa hơn. Một rạng đông đã báo rồi…” (Điếu văn). Vậy là, đâu phải chờ đến những năm cuối thế kỷ XX đất nước ta mới có nhu cầu đổi mới. Ngay từ trước Cách mạng, Nam Cao đã thổi bùng lên khao khát đổi thay của cả dân tộc Việt Nam.
3. “Sống là để làm một cái gì đẹp hơn nhiều, cao quý hơn nhiều”
Trái tim lớn và tầm nhìn rộng lớn đã giúp Nam Cao khái quát được những vấn đề, những hiện tượng xã hội phổ biến, mang ý nghĩa phổ quát cho mọi xã hội, mọi thời đại, vượt ra ngoài thời đại của ông. Nam Cao đã miêu tả với sự ám ảnh kỳ lạ thường thấy ở những tài năng lớn về cái môi trường, hoàn cảnh xô đẩy những cu Lộ (Tư cách mõ), những thằng Đức (Nửa đêm), những Chí Phèo (Chí Phèo) vào tình trạng tha hóa, lưu manh hóa. Chí Phèo vốn là người nông dân làm ăn lương thiện, là canh điền cày thuê cuốc mướn rốt cuộc lại phải sống bằng nghề cướp giật, rạch mặt ăn vạ; vốn “hiền lành như đất” “bỗng nhiên vùng dậy, giở toàn những giọng uống máu người không tanh”; vốn khao khát hạnh phúc bình dị đời thường mà lại đi đập phá hạnh phúc của dân làng, v.v… Chí Phèo bị lâm vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, khao khát sống lương thiện, tìm mọi cách để trở về cuộc sống lương thiện nhưng vẫn bị cả xã hội lạnh lùng gạt bỏ ra ngoài đồng loại. Tiếng thét biết bao đau đớn, đầy uất ức, căm giận của Chí Phèo ở cuối thiên truyện: “Ai cho tao lương thiện ?” không chỉ nhằm trực tiếp vào Bá Kiến mà âm hưởng của nó còn hướng tới toàn bộ xã hội làng Vũ Đại, không chỉ vang lên trong thời đại Nam Cao mà phải chăng vẫn còn vang vọng đến thời đại của chúng ta, không chỉ là vấn đề bức thiết của Việt Nam mà còn là vấn đề nóng bỏng của nhiều quốc gia thời hiện tại.
Nếu như viết về người nông dân, Nam Cao tập trung khái quát hiện tượng phổ biến ở nông thôn, hiện tượng những người nông dân lương thiện bị đẩy vào tình trạng tha hóa, lưu manh hóa thì khi viết về người trí thức, nhà văn lại khái quát hiện tượng “sống mòn”, “chết ngay trong lúc sống” của một tầng lớp, của cả xã hội Việt Nam trước Cách mạng. Các nhân vật trí thức tâm huyết của Nam Cao đều rơi vào tấn bi kịch tinh thần không lối thoát, lâm vào tình trạng của những con người có hoài bão, có lý tưởng cao đẹp, có tài năng nhưng bị hoàn cảnh trói buộc không sao thực hiện được điều đó. Nhân vật tự ý thức được tình trạng của mình, cố tìm lối thoát nhưng không tìm được, sống triền miên trong những dày vò đau đớn về tinh thần. Những Điền, những Hộ, những Thứ trong tác phẩm của Nam Cao muốn thực hiện những hoài bão lớn, muốn sống cho có ý nghĩa, xứng đáng với giá trị, tài năng của mình nhưng lại bị “áo cơm ghì sát đất”, phải sống lay lắt trong những cảnh đời thừa, trong những kiếp sống mòn, “chết mà chưa làm gì cả chết mà chưa sống !…”.
Song dẫu lâm vào tình cảnh “chết mòn” nhưng họ vẫn chưa bao giờ mất hết niềm tin, niềm hy vọng; vẫn khao khát được sống có ích, được cống hiến, được phát triển. Vẫn khao khát mỗi con người được phát triển tài năng “đến tận độ” để góp phần vào “công cuộc tiến bộ chung” của loài người. Cao cả và đẹp đẽ biết bao lý tưởng nhân văn của Nam Cao được gửi gắm qua dòng suy ngẫm của nhân vật Thứ về sự sống: “Thứ vẫn không thể nào chịu đựng được rằng sống chỉ là làm thế nào cho mình và vợ con mình có cơm ăn, áo mặc thôi. Sống là để làm một cái gì đẹp hơn nhiều, cao quý hơn nhiều. Mỗi người sống, phải làm thế nào cho phát triển đến tận độ những khả năng của loài người chứa đựng trong mình (tôi nhấn mạnh – T.Đ.S). Phải gom góp sức lực của mình vào công cuộc tiến bộ chung. Mỗi người chết đi, phải để lại một chút gì cho nhân loại” (Sống mòn). Nam Cao đòi hỏi cho mỗi cá nhân được “phát triển đến tận độ” với một ý thức đầy trách nhiệm và trong mối quan hệ mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng, của dân tộc và nhân loại. Có thể nói, tư tưởng nhân văn mới mẻ và sâu sắc đó chưa từng có trong nền văn học hiện đại Việt Nam trước Cách mạng. Đó là một tư tưởng lớn vượt ra ngoài thời đại Nam Cao, trở thành tư tưởng chung của mọi thời đại.
Từ những tấn bi kịch của người nông dân và người trí thức trong xã hội cũ, chúng ta thấy, Nam Cao quan tâm sâu sắc tới hai vấn đề lớn của con người là quyền được sống lương thiện và điều kiện để phát huy tài năng để sống một cuộc sống có ích, có ý nghĩa. Ông là nhà văn không chỉ đồng tình với khát vọng sống lương thiện mà còn đòi hỏi cho mỗi con người được “phát triển đến tận độ những khả năng của loài người chứa đựng ở trong mình”, cổ vũ cho khát vọng được cống hiến, được sáng tạo của người trí thức, người nghệ sĩ chân chính.
4. Những tác phẩm đi cùng năm tháng
Nam Cao đã để lại cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam nhiều tác phẩm xuất sắc, trong đó có những kiệt tác với những tìm tòi độc đáo, những sáng tạo mới mẻ về tư tưởng và nghệ thuật. Những truyện viết về cuộc sống tối tăm thê thảm của người nông dân như Chí Phèo, Trẻ con không được ăn thịt chó, Mua danh, Tư cách mõ, Điếu văn, Một bữa no, Lão Hạc, Một đám cưới, Lang Rận, Dì Hảo, Nửa đêm, v.v…; những truyện ngắn viết về tình trạng “chết mòn” của người trí thức nghèo như Giăng sáng, Mua nhà, Những truyện không muốn viết, Truyện tình, Quên điều độ, Cười, Nước mắt, Đời thừa và tiểu thuyết Sống mòn sẽ còn có sức sống lâu dài trong lòng bạn đọc thuộc nhiều thế hệ. Độc giả của những thế kỉ sau vẫn tìm đến Nam Cao, vẫn cứ đọc Nam Cao cho dù cuộc sống khi ấy có thể khác những điều ông miêu tả. Người ta vẫn cứ đọc Nam Cao để hiểu, để cảm thông, chia sẻ với những buồn đau của những kiếp lầm than, những kiếp sống mòn của thời đại cũ với niềm mong ước không bao giờ rơi vào tình trạng quẩn quanh, bế tắc đó cùng với niềm khao khát mãnh liệt vươn tới một cuộc sống có ích, có ý nghĩa, xứng đáng với con người. Người ta vẫn đọc Nam Cao để hiểu biết thêm về con người và cuộc đời, để chiêm nghiệm những triết lí tình thương sâu sắc của ông. Và nếu như thiên tài là đặt ra được những vấn đề lớn lao, sâu sắc, có ý nghĩa muôn thuở, là đi trước thời đại và có tính hiện đại, là vượt qua được thử thách khắc nghiệt của thời gian, là độc đáo, là duy nhất, là không lặp lại được thì đối với nền văn học Việt Nam hiện đại, hai chữ ấy phù hợp với Nam Cao.
Một lần nữa, xin được nhắc lại niềm tin mãnh liệt của Nam Cao: “Chúng tôi những kẻ đã đau khổ, đã uất ức, đã ước ao, đã khát thèm, đã thất vọng và vẫn còn hy vọng mãi và phải hy vọng mãi. Sự đời không thể cứ mù mịt mãi thế này đâu. Tương lai phải sáng sủa hơn. Một rạng đông đã báo rồi. Một mặt trời mới sẽ mọc lên… ”.
III.NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT TRONG PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN NAM CAO
1.Đề tài hẹp nhưng ý tứ rộng
Trong sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng 8, người ta đã thống kê được rất rõ ràng, có hai đề tài chính : Người nông dân và người tri thức tiểu tư sản. Trong bối cảnh xã hội đang nảy sinh mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp, xã hội thực dân nửa phong kiến bấy giờ ở nông thôn và thành thị ngày càng bộc lộ những ung nhọt về mặt tư tưởng văn hóa. Nhưng Nam Cao không chủ ý phản ánh những vấn đề, những hiện thực lớn lao của xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng 8/1945. Ngay hai đề tài người nông dân và người tri thức, nhà văn cũng chọn những hiện tượng tưởng như nhỏ nhặt đời thường của hai đối tượng để tạo dựng câu. chuyện. Nhưng triết lý về đời sống qua các “tiểu tiết” trong văn xuôi Nam Cao quả là không nhỏ. Nếu như với Ngô Tất Tố, nhà văn nổi tiếng viết về xung đột giai cấp gay gắt và phản ảnh bức tranh nông thôn toàn cảnh thì Nam Cao ít hướng đến phạm vi miêu tả rộng như thế. Nhà văn của làng Đại Hoàng này mạnh dạn đi vào “cái hàng ngày” nhưng mang tính phổ biến, cái bản chất. Các đề tài “ thu nhỏ” dễ nhận ra ngay ở nhan đề của các truyện ngắn: “ Trẻ con không được ăn thịt chó”, “ Con mèo”, “ Một đám cưới”, “ Một bữa no”, “ Từ ngày mẹ chết”… Điều nổi bật ở tài năng Nam Cao là “ Ông đã khai thác được cái chiều sâu, cái mạnh nước ngầm ẩn chứa bên trong và nâng lên một tầm khái quát cao hơn. Ở truyện ngắn của Nam Cao, chúng ta thường thấy hai tầng ý nghĩa: Một tầng ý nghĩa gắn liền với những tình tiết, sự việc và câu chuyện mà nhà văn muốn trần thuật lại và tầng ý nghĩa thứ hai là những đúc kết có tính chất triết lý khái quát”. (Phan Cự Đệ, văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB giáo dục, 2005).Quả vậy, tiếp xúc với truyện ngắn “ Trẻ em không được ăn thịt chó” độc giả có thể cười về cái triết lý của “hắn” – người bố : Trẻ em không được ăn thịt chó. Nhưng độc giả mục kích cảnh cuối truyện, cái đói khiến mấy đứa trẻ hí hửng đợi người lớn ăn thịt chó, rồi chờ đến lượt bọn chúng, nhưng “trong mâm, chỉ còn bát không, Thằng cu con khóc òa lên…” Chi tiết nhỏ song gợi ra biết bao suy nghĩ trong lòng người đọc . Trước miếng ăn người ta quên cả sĩ diện. Câu chuyện đâu chỉ dừng lại và trọng tâm ở chuyện trẻ em không được ăn thịt chó. Phải chăng, cái đói đã khiến con người tìm mọi cơ hội cứu đói, trước hết cho bản thân mình? Qua một bữa ăn, cách ăn, nhà văn đã phác họa một bức tranh của nông thôn Việt Nam: Cái đói .Chính cái đói có nguy cơ làm mất đi giá trị của con người. Đó là vấn đề tha hóa… Ở đề tài người trí thức tiểu tư sản, nhà văn cũng phản ảnh những chuyện vụn vặt, hàng ngày của họ. Nhà văn Hộ mỗi lần vui vẻ nhậu nhẹt với bạn bè lại về nhà đánh vợ, đuổi vợ đi rồi hối hận. Một điệp khúc lặp đi lặp lại trong cuộc sống của văn sĩ Hộ. Đó đâu chỉ là câu chuyện bi kịch của riêng Hộ. Tác giả chỉ ra bi kịch của tầng lớp tri thức trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Đó là bi kịch vỡ mộng, đời thừa, sống mòn, của những con người có khả năng tự ý thức rất cao. Đó là vấn đề về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
2. Bề ngoài lạnh lùng nhưng bên trong rất trữ tình.
Ấn tượng ban đầu của bạn đọc khi tiếp xúc với truyện của Nam Cao, là một giọng lạnh lùng, tỉnh táo, sắc lạnh. Nhưng rồi độc giả tinh ý nhận ra ẩn sau vẻ ngoài lạnh lùng là tình cảm yêu thương, chất trữ tình ngọt ngào của tác giả cho những đứa con tinh thần của mình . Trước hết, giọng văn sắc lạnh, tỉnh táo xuất phát từ ngôn ngữ người kể chuyện. Có thể nhận xét không chủ quan rằng ngôn ngữ kể chuyện của nhà văn này có màu sắc khách quan lạnh lùng. Chính sự kết hợp giữa kể chuyện và tả tâm trạng, văn Nam Cao đã hình thành phong cách có vẻ đối nghịch giữa hai đặc điểm: Tỉnh táo sắc lạnh và chứa chan trữ tìnhTác giả đã khéo léo gọi ra trong lòng độc giả “cả phần lí trí vẫn phần tình cảm”(Phan Diễm Phương- “ Lối văn kể chuyện của Nam Cao”)… Hai đặc điểm đối nghịch, bề ngoài lạnh lùng - bên trong trữ tình trong truyện của Nam Cao còn xuất phát từ lối kể chuyện bằng chất giọng : “nghiêm nghị và hài hước, trân trọng nâng niu, và nhạo, đay, mỉa”.(“Lối văn kể chuyện của Nam Cao”). Bạn đọc dễ nhận ra cái giọng mỉa mai, nhạo báng pha hài hước của văn xuôi Nam Cao, song độc giả tinh ý sẽ nhận ra thái độ nghiêm túc, tin tưởng vào phần tốt đẹp của con người hay khả năng tự ý thức rất cao của người tri thức. Những suy tư trăn trở của nhân vật đem lại hiệu quả thẩm mỹ, chiều sâu tư tưởng và làm thỏa mãn nhu cầu của độc giả thời hiện đại.
3. Khả năng miêu tả những trạng thái lưỡng hóa giữa người và vật, giữa đau đớn và hạnh phúc.
Xuất phát từ nhận thức hiện đại về con người (Trong con người có cả mặt tốt và mặt xấu), hướng tới vẻ đẹp nhân văn đích thực của con người, truyện dài và truyện ngắn của Nam Cao mạnh dạn đi vào tận cùng các cực đối lập trong nhân tính, tâm hồn con người. Đó là cánh cửa khép mở giữa đau khổ và hạnh phúc, giữa phần con và phần người. Tạo ra những tình huống, những hoàn cảnh thử thách nhân vật, truyện của Nam Cao không ít lần làm người đọc phấp phỏng bởi hoài nghi vào niềm tin của nhà văn này vào con người – Song, nhà nghiên cứu văn học Hà Minh Đức trong bài viết: Giới thiệu “tác phẩm Nam Cao” đã khẳng định: Nam Cao đã mạnh dạn đi theo lối riêng, nghĩa là ông không đếm xỉa gì đến sở thích của độc giả. Nhưng tài năng của ông đã đem đến cho văn chương một lối văn mới, sâu xa, chua chát và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của một người biết tin ở tài mình, ở thiên chức mình!
Dẫn chứng: Quả vậy, đọc những trang văn trong các tác phẩm như “Chí Phèo”, “Đời thừa”…ta thấy các nhân vật của Nam Cao vận động trượt dốc theo hướng từ con người dần dần đi đến giáp ranh của con vật hay hành trình ngược lại. Đương nhiên trong số các nhân vật lưỡng hóa ấy, Chí Phèo là tiêu biểu nhất. Trong Chí Phèo có sự vận động ngược và xuôi chiều như vậy. Bởi Chí Phèo đã sống trong môi trường “là một thế giới luôn chứa đựng hai khả năng giành cho con người” (Nguyễn Quang Trung, “Tính chất lưỡng hóa trong nhân vật Chí Phèo”). Xã hội thực dân nửa phong kiến mà cụ thể là Bá Kiến và nhà tù thực dân đã biến một anh cai điền hiền lành thành một “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Nam Cao đã dùng vài nét để phác họa hình hài bản chất “ con” trong người Chí Phèo: “ Hắn biết đâu hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện …”.Như vậy, ở Chí Phèo có quá trình lưỡng hóa giữa lương thiện và lưu manh, giữa người và vật. Chứng kiến Chí Phèo đi cheo leo trên sợi dây mỏng manh giữa thiện và ác, giáp ranh với cái ác rất rõ, nhưng không ngờ cây bút Nam Cao phát hiện một quá trình lưỡng hóa theo chiều ngược lại: say-tỉnh, lưu manh-lương thiện, vô thức-ý thức. Cái đoạn đời của Chí Phèo ở gần cuối và cuối cuộc đời Chí Phèo đã vận động lưỡng hóa theo chiều này. Và quá trình vận động tính cách của nhân vật như một minh chứng cho quan niệm: con người thật là kì diệu, có thể vượt lên khỏi sự chi phối của hoàn cảnh, hoặc là trong sâu thẳm tâm hồn con người có ngọn lửa lương thiện đích thực. Cái khát khao lương thiện và nhát dao tự sát đã nói lên ngọn lửa khao khát hoàn lương đã cháy lên sau bao ngày tưởng chừng là tàn tro trong lòng Chí Phèo. Theo tác giả Nguyễn Quang Trung trong bài viết “Tính chất lưỡng hóa trong nhân vật Chí Phèo”, thì ở đề tài người trí thức, tác giả xây dựng nhiều nhân vật trí thức lưỡng hóa hơn ở đề tài người nông dân.Ở người trí thức diễn ra “cuộc vật lộn giữa chính và tà, giữa thiện và ác, giữa cao thượng và thấp hèn, giữa vị tha và vị kỉ…”.
Dẫn chứng: Điều này chúng ta thấy rõ ở các nhân vật như Thứ(Sống mòn), Hộ (Đời thừa), Hài (Quên điều độ)… Các nhân vật này luôn giằng xé, cau có, khó chịu, bởi khi rơi vào tình trạng tiêu cực, họ liền ý thức họ là con người, là trí thức có lương tâm, lập tức những biểu hiện tàn nhẫn của họ trở thành bi kịch nội tâm của chính họ. Nhân vật Hộ trong “ Đời thừa” sau mỗi lần tỉnh lại, nhớ lại chuyện mình đuổi Từ đi, là lập tức xấu hổ tự mắng mình là khốn nạn. Và cũng chính khả năng tự ý thức đưa họ trở về đúng nghĩa Con Người. Do vậy, dù có lúc lưỡng hóa trong tính cách nhân vật người trí thức cùa Nam Cao cuối cùng cũng hoàn nguyên bản chất lương thiện vốn có của con người.Văn học thế giới và văn xuôi Việt Nam thực ra không ít những tác phẩm phản ánh tình trạng lưỡng hóa của con người. Điều đáng nói là Nam Cao là nhà văn vận dụng phù hợp, có bút lực sáng tạo nên những nhân vật đặc sắc hiếm có, phản ánh đúng sự vận động biện chứng trong tâm hồn, tính cách con người. Do vậy, truyện của Nam Cao cho đến ngày nay vẫn có ý nghĩa đánh động con người về việc giữ gìn nhân cách, những bài học thấm thía đủ sức kéo người ta “dao động” về phía “người” nhiều hơn “con”. Cần khẳng định rằng, truyện của Nam Cao miêu tả nhân vật giữa tính người và tính vật trở thành biệt tài, thành phong cách của nhà văn này: Có thể kể hàng loạt nhân vật trong văn Nam Cao có kiểu nhân vật dao động trong tính cách như vậy. Chẳng hạn, nhân vật người bố (Trẻ con không được ăn thịt chó);
Du (Nhỏ nhen),thằng Lung (Đòn chồng),vợ chồng Thai(Làm tổ) , anh cu Lộ (Tư cách mõ), Lê Văn Rự, Đức ( Nửa đêm) , Thứ (Sống mòn), Điền (Trăng LuanVan.net.vn sáng)...Không ít nhân vật của Nam Cao bị tha hóa, nhưng quan trong là cuối cùng nhiều nhân vật của Nam Cao đã thắng thế, chiến thắng cái phàm tục nhỏ nhen, vị kỷ. Câu nói sau đây là phát biểu của Lão Hạc hay chính là quan niệm của Nam Cao: “Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ,thì ta chỉ thây họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện , xấu xa , bỉ ổi...Toàn là những cái cớ để cho người ta tàn nhẫn không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương..”(Lão Hạc) Cho nên,dù nhà văn phơi ra trên từng trang viết của mình sự chao đảo giữa tính người và tính vật, nhưng điều quan trọng là Nam Cao đã thể hiện niềm tin lớn lao vào con người và sáng tạo được những tác phẩm mang dấu ấn rõ nét của chủ nghĩa nhân văn hiện đại.