CHUYÊN ĐỀ: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THƠ

Hệ thống cung cấp kho dữ liệu phân tích tác phẩm và trắc nghiệm chất lượng cao.

Hồ Hoàng Gia

TẢI TÀI LIỆU

-------

  1. Khái niệm thơ

Thơ là một hình thức sáng tác văn học đầu tiên của loài người. Chính vì vậy,  một thời gian rất dài, thuật ngữ thơ được dùng chỉ chung cho văn học. Thơ có lịch sử lâu đời như thế nhưng để tìm một định nghĩa thể hiện hết đặc trưng bản chất của thơ, thực sự không dễ.

Trong nền lý luận văn học cổ điển Trung Hoa, khái niệm "thơ là gì?" đã được đề cập đến từ rất sớm. Cách đây khoảng 1500 năm, trong cuốn Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp đã đề cập đến ba phương diện cơ bản cấu thành nên một bài thơ là tình cảm, ý nghĩa (tình văn), ngôn ngữ (hình văn) và âm thanh (thanh văn). Kế thừa quan niệm của Lưu Hiệp, đến đời Đường, Bạch Cư Dị đã nêu lên các yếu tố then chốt tạo thành điều kiện tồn tại của thơ: Cái cảm hoá được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa. Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa. Quan niệm này không chỉ dừng lại ở việc nêu lên các yếu tố cấu thành tác phẩm mà còn chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa chúng, giống như gốc rễ, mầm lá, hoa, quả gắn liền với nhau trong một thể thống nhất hoàn chỉnh và sống động. Đây có thể coi là quan niệm về thơ toàn diện và sâu sắc nhất trong nền lý luận văn học cổ điển Trung Hoa.

Ở Việt Nam, khái niệm "thơ là gì?" cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến với nhiều quan niệm, nhiều khuynh hướng khác nhau. Lý giải về bản chất của thơ, các tác giả nhóm Xuân Thu nhã tập cho rằng: Thơ là một cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thuý, cao siêu. Còn nhà thơ Tố Hữu thì quan niệm: Thơ là cái nhuỵ của cuộc sống.  Lê Qúi Đôn cho rằng Thơ khởi phát từ trong lòng người ta, còn Chế Lan Viên lại quan niệm Thơ đi giữa ý và nhạc

Lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học đã được chứng kiến rất nhiều định nghĩa về thơ. Trong đó, cách định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học có thể xem là chung nhất: Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu. Định nghĩa này đã định danh một cách đầy đủ về thơ ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật. Đặc biệt, đã khu biệt được đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ trong những thể loại văn học khác.

  1. Phân loại thơ

1. Phân loại theo phương thức biểu đạt: thơ trữ tình và thơ tự sự 

2. Phân loại theo hình thức tổ chức ngôn từ: thơ cách luật và thơ tự do 

3. Phân loại theo loại hình nội dung: 

- Thơ sử thi hay tụng ca: ca ngợi chiến công, tinh thần yêu nước - (Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt); Người con gái Việt Nam (Tố Hữu); Đất nước (Nguyễn Đình Thi) 

- Thơ thế sự: đề cập đến các thói tục, sự thế ở đời ( thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm; thơ trào phúng của Tú Xương, Tú Mỡ) 

- Thơ đời tư ( thơ tình)

  1. Đặc trưng của thơ

  1. Thơ là sự thổ lộ tình cảm mãnh liệt đã được ý thức

  • Tình cảm là sinh mệnh của thơ

Thơ ca khởi phát từ tâm hồn người, đó là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, là khúc hát của tâm hồn. Thơ thể hiện thế giới nội tâm, hiện thực trong tâm hồn con người với những rung cảm tinh tế sâu sắc trước cuộc sống muôn màu. “Thơ là tiếng lòng” (Diệp Tiếp – nhà phê bình đời Thanh, Trung Quốc), “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người” (Tố Hữu), “Thơ là sự biểu lộ của tình cảm mãnh liệt” (Wordsworth- nhà thơ Anh) … Như vậy tình cảm là yếu tố sinh mệnh của thơ ca “Thiếu tình cảm thì có thể trở thành người thợ làm những câu có vần chứ không làm được nhà thơ” (Jose Marti). 

Nhưng, tình cảm trong thơ không phải là thứ tình cảm hời hạn, nông cạn, mà là sự rung động mãnh liệt bên trong, sự giày vò chấn động trong tâm hồn.“Thơ sinh ra từ tình yêu và lòng căm thù, từ nụ cười trong sáng hay những giọt nước mắt cay đắng” Raxun Gamzatop

=>Khi tìm hiểu một bài thơ, ta phải đọc được tâm trạng, cảm xúc của tác giả được gửi gắm trong bài thơ đó.

  •  Tình cảm trong thơ không tự dưng nảy sinh 

Tình cảm trong thơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo nhưng không phải là một yếu tố đơn độc, tự nó nảy sinh và phát triển ( theo kiểu không đau mà rên) mà là quá trình tích tụ những cảm xúc suy nghĩ của nhà thơ do cuộc sống tác động và tạo nên. Không có cuộc sống thì không có thơ ( nhà thơ chính là con ong hút nhuỵ từ những bông hoa của đời sống).  Phải có những sự kiện, sự việc hoàn cảnh làm chấn động tâm hồn nhà thơ thì tình cảm thơ mới nảy sinh như Nguyễn Đình Thi từng khẳng định “ Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi động chạm đến cuộc sống. Tóe lên ở nơi giao nhau giữa tâm hồn và ngoại vật trước hết ở cảm xúc”. Đắm mình trong cuộc đời nhà thơ rung động mãnh liệt trước vẻ đẹp của thiên nhiên hay con người, đau nỗi đau của kiếp người, trăn trở day dứt trước những số phận éo le. Những rung động đó tạo nên cảm hứng buộc nhà thơ phải cầm bút và dòng thơ tuôn chảy. “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy” (Tố Hữu). Các nhà thơ thường “Tức cảnh sinh tình”, “Đối cảnh sinh tình”, “Cảm cảnh, cảm vật mà tình nảy nở”

=> Bởi vậy, muốn hiểu thơ, ta phải nắm bắt được cái tình huống đã làm nảy sinh tình cảm thơ.

  •  Thơ không phải là sự bộc lộ tình cảm một cách bản năng, trực tiếp

Tình cảm trong thơ là tình cảm được ý thức, được siêu thăng, được lắng lọc qua cảm xúc thẩm mĩ, gắn liền với sự tự ý thức về mình và về đời. Trong thơ, nhà thơ không bị tình cảm mãnh liệt của mình chi phối trái lại ý thức của nhà thơ làm chủ tình cảm của mình bằng một tư tưởng.

=> Đọc thơ phải chạm được tới tư tưởng của nhà thơ. Đó là những tình cảm qua nhiều trải nghiệm nên thấm thía, sâu sắc.

  • Tình cảm trong thơ phải là tình cảm lớn

Đó là tình cảm đẹp, tình cảm cao thượng thấm nhuần phẩm chất nhân văn, chính nghĩa. Những tình cảm tầm thường không làm nên thơ. Chỉ những tình cảm đẹp gắn liền với tình cảm nhân loại mới có sức vang vọng trong tâm hồn người và mới làm nên thơ.

        =>  Đọc thơ phải cảm cảm nhận và hiểu giá trị nhân văn của bài thơ.

- Tình cảm trong thơ có sự cá thể hóa

 Thơ bao giờ cũng là sự thể hiện cái tôi tác giả, dù nhà thơ có ý thức điều đó hay không. Tình cảm trong thơ là tình cảm mang tính cá thể hóa nên qua từng trang thơ ta như được tiếp xúc trực tiếp với một cá tính, một cuộc đời, một tâm hồn riêng không thể trộn lẫn. Có thể nói, thơ là gương mặt riêng của mỗi người. Tình cảm mang tính cá thể hóa cũng là một yếu tố làm nên diện mạo riêng không thể trộn lẫn của mỗi hồn thơ.

Cái tôi trong thơ là cái tôi thứ hai của tác giả, không phải cái tôi đời thường, không trùng khít, đồng nhất với con người ngoài đời của tác giả.

        Tình cảm trong thơ mang tính cá thể hóa nhưng không phải tình cảm cá nhân mà là tình cảm xã hội, nhân loại.

  1. Thơ - Nghệ thuật của trí tưởng tượng:

-  Nếu tình cảm là sinh mệnh của thơ thì tưởng tượng là đôi cánh của thơ “ thơ là nghệ thuật kì diệu nhất của trí tưởng tượng” (Sóng Hồng).

 +  Tưởng tượng trong thơ chủ yếu là liên tưởng, giả tưởng, huyễn tưởng. Nó mở rộng thế giới thực để người đọc có thể cảm nhận đến nhiều phạm vi rộng rãi hơn, bao la hơn của hôm qua, hôm nay và ngày mai. Tố Hữu có lần nói “ Thơ phải chăng là điều ấy mơ ở trong thực, cái vô hình trong cái hữu hình. Những màu trong thơ không sáng cũng không tối, lờ mờ nhưng lại rõ, cái chính xác của sự mơ hồ, cái bảng lảng có thể nói như vậy khi người ta là thi sĩ”.

 + Tưởng tượng mở thêm nhiều năng lực mới, ý hướng mới tạo cho nhà thơ có thể tiếp cận với cuộc sống bằng nhiều khả năng kì lạ và từ đó bài thơ cũng bộc lộ nhiều phẩm chất mới .

- Tuy nhiên mọi tưởng tượng trong thơ đều phải bắt nguồn từ sự sống. Bản thân đời sống thực tế ở những mặt tiêu biểu, tính chất nên thơ đã góp phần trực tiếp tạo nên những tưởng tượng đẹp cho thơ và những tưởng tượng ấy lại được chắp cánh thêm qua tâm hồn thơ bay bổng.

  1. Ý thơ và tứ thơ

  • Ý thơ: là ý nghĩa mà văn bản thơ muốn biểu đạt.Ý thơ thường không được thông báo trực tiếp, đầy đủ qua lời thơ mà do tứ thơ, giọng điệu, hình ảnh, biểu tượng thơ gợi lên.

  • Tứ thơ: là hình thức đặc biệt để biểu hiện ý thơ. Tứ thơ có thể là một hình ảnh tượng trưng, là các quan hệ đối thoại, song hành…của các nhân vật, hình ảnh. Nên cùng một ý thơ nhưng các tác giả khác nhau ở những tác phẩm khác nhau có thể lựa chọn tứ thơ khác nhau. Tứ thơ được tạo dựng nhờ tưởng tượng. Tưởng tượng tạo nên những hình ảnh biểu tượng để thể hiện cảm xúc, tư tưởng của tác giả mà người đọc cần giải mã.

  1. Ngôn ngữ thơ

Ngôn ngữ thơ được cấu tạo đặc biệt. Ngôn ngữ thơ không chỉ có chức năng thông báo cung cấp thông tin như ngôn ngữ thông thường mà nhằm thực hiện chức năng truyền cảm, biểu hiện một nội dung nghệ thuật nhất định vì vậy được cách điệu hóa.

- Ngôn ngữ thơ giàu cảm xúc: Tính truyền cảm cũng là đặc trưng chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, bởi tác phẩm văn học là sản phẩm của cảm xúc của người nghệ sĩ trước cảnh đời, cảnh người, trước thiên nhiên. Cho nên, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương phải biểu hiện được cảm xúc của tác giả và phải truyền được cảm xúc của tác giả đến người đọc, khơi dậy trong lòng người đọc những cảm xúc thẩm mĩ. Tuy nhiên, do đặc trưng của thơ là tiếng nói trực tiếp của tình cảm, trái tim nên ngôn ngữ thơ ca có tác dụng gợi cảm đặc biệt.

- Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính: Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm. Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy. Nếu như trong văn xuôi, các đặc tính thanh học của ngôn ngữ (như cao độ, cường độ, trường độ...) không được tổ chức thì trong thơ, trái lại, những đặc tính ấy lại được tổ chức một cách chặt chẽ, có dụng ý, nhằm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không nói hết. Bởi thế, đặc trưng tính nhạc được coi là đặc trưng chủ yếu mang tính loại biệt rõ nét của ngôn ngữ thơ ca.

          Theo các nhà nghiên cứu, nhạc tính trong thơ được thể hiện ra ở ba mặt cơ bản:

          +  Sự cân đối là sự tương xứng hài hoà giữa các dòng thơ. 

          +  Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hoà âm, ở sự thay đổi độ cao giữa hai nhóm thanh điệu. 

          +  Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự dùng vần, điệp từ, ngữ và điệp cú. Chúng có tác dụng như một phương tiện kết dính các dòng thơ lại với nhau thành một đơn vị thống nhất, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho trí nhớ vừa tạo nên vẻ đẹp trùng điệp cho ngôn ngữ thơ.

- Ngôn ngữ thơ có nhịp điệu: sự phân dòng góp phần tạo nhịp điệu. Tùy vào số chữ ( tiếng) trong dòng thơ mà thơ có nhịp điệu khác nhau. 

- Ngôn ngữ thơ hàm súc: Đây là đặc điểm chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, nhưng do đặc trưng của thể loại mà nó biểu hiện một cách tập trung với yêu cầu cao nhất trong ngôn ngữ thơ. Nếu ngôn ngữ văn xuôi tự sự là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường, nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi biến thái, mọi chiều kích, thậm chí cả sự xô bồ, phồn tạp đến cực độ để tái hiện bộ mặt cuộc sống, tâm lý con người trong sự sâu rộng, đa chiều vốn có của nó thì ngôn ngữ thơ lại mang nặng tính "đặc tuyển". Là thể loại có một dung lượng ngôn ngữ hạn chế nhất trong các loại tác phẩm văn học, nhưng thơ lại có tham vọng chiếm lĩnh thế giới. Nói như Ôgiêrốp: "Bài thơ là một lượng thông tin lớn nhất trong một diện tích ngôn ngữ nhỏ nhất". Chính sự hạn định số tiếng trong câu thơ, bài thơ buộc người nghệ sỹ phải "thôi xao", nghĩa là phải phát huy sự tư duy ngôn ngữ để lựa chọn từ ngữ cho tác phẩm. Bởi thế, Maiacôpxki gọi lao động nghệ thuật ngôn từ của nhà thơ là "trả chữ với với giá cắt cổ":

Nhà thơ phải trả chữ với giá cắt cổ

Như khai thác chất hiếm radium

Lấy một gang phải mất hàng bao công sức

Lấy một chữ phải mất hàng quặng tấn ngôn từ 

- Ngôn ngữ thơ không có tính liên tục mà có tính nhảy vọt gián đoạn tạo thành những khoảng lặng giàu ý nghĩa. 


Bình luận