CÁCH VẬN DỤNG TƯ DUY PHẢN BIỆN KHI VIẾT VĂN

Hệ thống cung cấp kho dữ liệu phân tích tác phẩm và trắc nghiệm chất lượng cao.

Hồ Hoàng Gia

> LINK TẢI FILE PDF <

1. Tư duy phản biện là gì? 

Phản biện là huy động vốn tri thức, kinh nghiệm và năng lực lập luận,  biện bác của mình để chỉ ra những điểm đúng/sai, hợp lý/bất hợp lý, khả thi/bất khả thi… của đối tượng vấn đề được đưa ra. Mục đích của phản biện  nói chung là mang lại nhận thức đúng đắn, sâu sắc về đối tượng và từ đó có  giải pháp phù hợp, hiệu quả tác động lên đối tượng. 

Tư duy phản biện là một quá trìn tư duy biện chứng bao gồm phân tích  đánh giá một thông tin đã có theo cách nhìn khác cho vấn đề đặt ra nhằm  làm sáng tỏ và khảng định lại tính chính xác của vấn đề. 

2. Tư duy phản biện trong văn học 

Môn Văn là môn học đặc thù, vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Việc cảm nhận, đánh giá một vấn đề văn học có thể thay đổi theo thời gian và  theo thị hiếu thẩm mĩ của mỗi người, mỗi thời đại. Có những vấn đề hôm  nay là đúng nhưng ngày mai thì chưa chắc. Ngược lại, có những vấn đề ngày trước sai, ngày nay lại đúng. Một vấn đề có nhiều cách hiểu, gây tranh  cãi nhiều thập kỉ mà không tìm ra chân lí. Vì vậy, trong học văn, rất cần có  cái nhìn mới, cách cảm mới để tìm ra những giá trị mới. Học sinh như  những bạn đọc sáng tạo có thể lập luận để đưa ra chân lí đúng đắn hơn cho  vấn đề. 

Trong quá trình học tập, tiếp thu tri thức, đặc biệt tri thức về các tác  phẩm văn học, học sinh phải luôn suy nghĩ về những điều giáo viên trình  bày, biết đặt ra và trả lời được các câu hỏi như: "Tại sao lại như vậy?", "Như  thế thì đã thực sự đúng đắn chưa?"...; không tiếp thu kiến thức một cách thụ 

động, một chiều mà phải chủ động, chọn lọc, luôn luôn hướng tới chân lí  của vấn đề. Nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách biện chứng. Chúng ta phải  biết nhìn nhận, đánh giá mọi vấn đề theo những cách mới mẻ, thậm chí là  phản bác lại những điều đã được công nhận.  

Đối với các đề bài nghị luận theo hướng mở, học sinh hoàn toàn có thể lập luận đưa ra những suy nghĩ riêng của mình, tạo sự thuyết phục với người  đọc. Như vậy, trong phản biện cần thuyết phục người khác hướng tới những  kết luận chính xác hơn. Phản biện phải mang tính khánh quan, khoa học,  tránh lấy "phản đối" làm "phản biện". Phản biện cần có tâm sáng, tầm cao,  cách đúng. 

3. Một số biện pháp thực hành tư duy phản biện cho học sinh

3.1. Dạng đề nghị luận xã hội 

Hiện tại các đề nghị luận xã hội trong nhà trường trung học xoay quanh  các vấn đề về tư tưởng, đạo đức, lối sống gần gũi với tuổi trẻ, bày tỏ ý kiến,  suy nghĩ về một hiện tượng xấu hoặc tốt trong đời sống xã hội. Trong các  bài văn nghị luận xã hội ở nhà trường, các em cần phát biểu những suy nghĩ  nghiêm túc, chín chắn của mình về một vấn đề có ý nghĩa xã hội đặt ra cho  mình, lứa tuổi mình.  

Bài văn nghị luận xã hội ở đây trước hết đòi hỏi người viết phải bày tỏ được tư tưởng của mình. Đó là tư tưởng phù hợp đạo lí, lẽ phải, thể hiện  trách nhiệm của người viết đối với đất nước, gia đình, xã hội, con người. Tư  tưởng trong bài văn nghị luận xã hội phải thể hiện nhiệt tình xây dựng, vun  đắp cho xã hội ngày càng tốt đẹp, lên án, phê phán các hành vi trái đạo đức,  trái lẽ phải, có hại cho đất nước, xã hội và văn hóa Việt Nam. Như vậy, với  tư duy phản biện sẽ giúp các em có những nhận thức toàn diện, đầy đủ về 

mọi vấn đề trong đời sống xã hội. Các em sẽ có những suy nghĩ riêng, độc  lập, khách quan để bổ sung và hoàn thiện hơn cho nhận thức, đạt tới chân lí  từ các vấn đề xã hội quen thuộc hay mới mẻ, phù hợp với xu thế phát triển  của xã hội. Tư duy phản biện cần được phát huy và rèn luyện tốt hơn khi các  em vận dụng để giải quyết các dạng đề nghị luận xã hội: 

* Nghị luận về một tư tưởng đạo lí 

Đề tài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường là quan điểm đạo đức, lẽ sống, về văn hóa, tín ngưỡng, phương pháp tư tưởng...Với học sinh những  vấn đề chung này bao gồm các nội dung vô cùng phong phú: về nhận thức  (Lí tưởng, mục đích sống, nghề nghiệp...), về tâm hồn, tính cách ( lòng yêu  nước, nhân ái, vị tha, bao dung, độ lượng; tính trung thực, dũng cảm, thái độ hòa nhã, khiêm tốn, thói ích kỉ, vụ lợi...), về các quan hệ gia đình (tình mẫu  tử, tình anh em...), về các quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình  bạn...). Những vấn đề nghị luận phong phú và đa dạng như thế đòi hỏi học  sinh phải huy động vốn kiến thức xã hội và những trải nghiệm sâu sắc của  bản thân để giải quyết vấn đề. 

Đồng thời việc vận dụng các thao tác lập luận như: giải thích, chứng  minh, bình luận, so sánh...là hết sức cần thiết. Ngoài ra, để nâng cao hơn  hiệu quả bài viết của mình, các em còn cần biết sử dụng tư duy phản biện để thể hiện những suy nghĩ, nhận thức riêng, độc lập của mình về những điều  tưởng chừng như rất quen thuộc. Các em hoàn toàn có thể đưa ra những suy  nghĩ riêng, thậm chí đối lập với vấn đề của đề. Điều quan trọng là những ý  kiến, quan điểm riêng đó có những lí lẽ phù hợp và thuyết phục người đọc.  

Có thể thấy rõ nét điều đó qua một số đề bài sau:

Đề bài: "Nhẫn nhịn là học phí phải trả để có được thiên nhiên, xã hội và bản thân con người. Nhẫn nhịn là phẩm chất của kẻ mạnh có tầm  nhìn xa." 

Bằng những hiểu biết và trải nghiệm của mình, anh/chị hãy bàn luận về ý kiến trên. 

Đề bài 2 "Những ai không bao giờ bằng lòng với mình sẽ chẳng bao giờ biết quý trọng những gì hiện có. Ngược lại, những người luôn bằng lòng  với những gì đã có sẽ không bao giờ có khát vọng vươn lên." (Bí mật của hạnh phúc - David Niven, NXB Trẻ, 2013) 

Hãy bàn luận ý kiến trên. 

Đề bài 3: Suy nghĩ của anh/chị về câu nói của Frank A.clark: Ai cũng muốn làm điều gì đó rất lớn lao nhưng lại không nhận ra rằng cuộc sống  được tạo thành từ những điều rất nhỏ. 

( Dẫn theo Hành trang vào đời, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh  2008, trang 38) 

Để làm tốt ba đề bài trên, ngoài việc tìm hiểu đề, lập dàn ý, vận dụng tốt các thao tác lập luận quen thuộc, các em có thể nhất trí với những khía cạnh đúng đắn, hợp lí của vấn đề xã hội được đặt ra trong đề bài.  

Ở đề bài 1, phẩm chất nhẫn nhịn là phẩm chất tốt đẹp trên con đường  chinh phục tự nhiên, xã hội và con người. Nhẫn nhịn thể hiện sức mạnh của  trí tuệ và ý chí. Các em có thể khẳng định, đồng tình với điều đó, tuy nhiên  cũng hoàn toàn có thể tạo thêm độ sâu sắc cho bài viết khi phản biện rằng  không phải bất cứ ở đâu, lúc nào con người cũng phải nhẫn nhịn. Nhẫn nhịn  quá trở thành yếu hèn, nhẫn nhục. Nhẫn nhịn quá mức đôi khi sẽ khiến hành  động thiếu quyết đoán, đánh mất thời cơ, ý chí trở nên bạc nhược.  

Ở đề bài 2, các em không chỉ đồng ý với ý kiến của đề có thể đưa ra  những ý kiến phản biện của riêng mình. Trong cuộc sống đôi khi phải biết  bằng lòng chính mình, khả năng, năng lực của mỗi người là có giới hạn và phải biết chấp nhận kết quả đạt được khi đã làm hết khả năng của mình. Phải biết sống với những gì mình đang có nhưng không thực dụng, yếu đuối, hèn nhát mà phải luôn có ước mơ, ý chí vươn lên. Ước mơ, ý chí phải phù hợp  với bản thân mình, không mơ ước viển vông, không ảo tưởng về bản thân.  

Ở đề bài 3, các em hoàn toàn có thể đồng ý với ý nghĩa của cả câu nói :  Mọi con người đều luôn mơ ước làm được những điều thật lớn lao cho bản  thân, gia đình và xã hội. Nhưng thường không ý thức được một điều muốn  làm nên việc lớn thì trước hết phải làm tốt những việc nhỏ. Câu nói đề cao ý  nghĩa của những điều nhỏ những việc làm nhỏ của con người trong cuộc  sống. Tuy nhiên, bài viết sẽ tốt hơn nếu các em biết phản biện lại vấn đề. Đó 

là biết trân trọng những việc làm nhỏ bé song không có nghĩa là phủ nhận  mà cần phải khuyến khích, động viên để con người phấn đấu và vươn tới  những điều lớn lao khi có đủ điều kiện, khả năng để khẳng định sự trưởng  thành của bản thân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. 

* Nghị luận về một hiện tượng đời sống 

Ngoài những nét tương đồng với kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống có những điểm khác biệt  cần lưu ý. Kiểu bài này lấy những hiện tượng xảy ra trong đời sống, hiện  tượng xã hội đã hoặc đang diễn ra, đáng khen, đáng chê hay chứa đựng vấn  đề đáng suy nghĩ để bàn bạc. Từ hiện tượng đời sống, học sinh phải phân  tích, tìm ra ý nghĩa xã hội về tư tưởng, đạo đức mà bàn bạc, đánh giá. Đề tài  để bàn bạc thường gần gũi với đời sống, sát hợp với trình độ nhận thức của  học sinh như: tình trạng tai nạn giao thông, hiện tượng môi trường bị ô  nhiễm, tiêu cực trong thi cử, nạn bạo hành trong gia đình, những tấm gương  người tốt việc tốt...Trước những hiện tượng đời sống phong phú, đa dạng,  đòi hỏi học sinh phải có vốn sống và nhận thức sâu sắc hơn, cách thể hiện  nhận thức, tư tưởng, thái độ và hành động trước những hiện tượng đời sống  hàng ngày cũng cần rõ ràng và dứt khoát hơn.  

Để làm tốt kiểu bài này, ngoài các thao tác lập luận giải thích, phân tích,  bình luận, so sánh...các em cũng cần thiết nên phát huy tốt tư duy phản biện  để bày tỏ cách nhìn nhận, đánh giá hiện tượng đời sống theo nhiều chiều,  nhiều hướng để việc đánh giá trở lên khánh quan, toàn diện, hợp lí. Đồng  thời, với tư duy phản biện, các em sẽ có được những suy nghĩ, nhận thức  riêng sâu sắc và có ý nghĩa quan trọng với bản thân các em và mọi người,  với xã hội, góp phần thúc đẩy xã hội tốt đẹp hơn.  

Qua một số đề bài cụ thể về một hiện tượng đời sống sẽ thấy rõ nét hơn vai  trò quan trọng của tư duy phản biện: 

Đề bài: Có một vụ tai nạn giao thông, nạn nhân đang quằn quại. Có người lấy điện thoại ra quay phim, chụp ảnh; có người không ngớt chỉ trỏ,  hỏi han; có người nhanh chóng lặng lẽ rời đi; và cũng có người lao vào  sơ cứu, đưa bệnh nạn nhân đi bệnh viện. 

Hãy viết một bài văn nêu suy nghĩ của anh/chị về những người ấy. 

Đề bài 2: Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp. 

Phát biểu những suy tưởng của anh/chị được gợi ra từ hiện tượng nêu trên. 

Đề bài 3 Suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng hiện nay một số giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc đang bị mai một.

Cả ba đề bài trên đều nêu lên các hiện tượng đời sống đáng suy ngẫm và có ý nghĩa với mọi người trong xã hội. Trước các hiện tượng đời sống này,  học sinh hoàn toàn có thể bộc lộ được rõ nét những suy nghĩ thái độ, cách  đánh giá độc lập, khách quan, hợp lí, thuyết thục của mình.  

Ở đề bài 1, đây là hiện tượng đời sống rất quen thuộc song có ý nghĩa  quan trọng thể hiện rõ nét đạo đức và văn hóa ứng xử của con người trong  cộng đồng. Các em có thể bày tỏ thái độ phê phán, lên án những người thiếu  đạo đức và văn hóa. Họ thờ ơ, vô cảm trước hoạn nạn của người khác.  Ngược lại những người có đạo đức, văn hóa, họ sẵn sàng cứu giúp người  gặp nạn dù có thể đôi lúc bị thiệt thòi. Đó là cách sống nhân đạo, vị tha và  giàu tính hi sinh. Họ đáng trân trọng. Vì vậy, có thể thấy lòng tốt là điều  đáng quý của con người, nhưng trước hết mỗi người phải hành xử có trách  nhiệm, có văn hóa, không thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau, hoạn nạn của người  khác. Trong cuộc sống, càng giúp được nhiều người càng tốt, nhất là trong  hoàn cảnh hoạn nạn. Mỗi người, nếu có điều kiện hãy cư xử và hành động một cách có đạo đức, văn hóa.  

Ở đề bài 2, từ hiện tượng tự nhiên, học sinh có thể suy ra những ý nghĩa  quan trọng đối với con người. Chính trong hoàn cảnh nhiều thử thách, nghị lực và sức sống tiềm tàng của con người càng được bộc lộ rõ hơn bao giờ hết. Vì vậy, trong cuộc sống đầy rẫy những khó khăn thử thách, con người  cần rèn luyện cho mình bản lĩnh ý chí để thay đổi cuộc sống, thay đổi số phận. Các em có thể phản biện về hiện tượng này ở những góc độ khác như: Có nhiều người sống trong điều kiện thuận lợi nhưng không biết tận dụng để phát triển năng lực của mình mà luôn ỉ lại, dựa dẫm, chỉ biết hưởng thụ, lãng phí thời gian, tiền bạc...Cũng có những người vì không được gặp may mắn trong cuộc sống mà buông xuôi và chấp nhận thất bại. Những người như thế sẽ không bao giờ thành công trên bước đường đời của mình.  

Ở đề bài 3, học sinh có thể đồng ý với hiện tượng này, đó là nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang bị mai một do nhiều nguyên nhân như: Do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, do quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa  rộng rãi, do một số lĩnh vực văn hóa chậm đổi mới, chưa thu hút được thế hệ trẻ. Tuy nhiên, các em cũng có thể đưa ra ý kiến phản biện, vẫn có nhiều bạn  trẻ yêu mến, say mê với nhiều giá trị văn hóa truyền thống. Điều quan trọng  ở đây là cần có nhiều giải pháp phù hợp để giúp các bạn trẻ có thêm hiểu  biết về giá trị văn hóa dân tộc, thêm yêu và gắn bó, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đó. 

3.2. Dạng đề nghị luận văn học 

Hiện nay xu hướng ra đề mở không chỉ ở dạng đề nghị luận xã hội mà  còn ở cả dạng đề nghị luận văn học. Đề nghị luận văn học theo hướng mở

yêu cầu học sinh không chỉ có kiến thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về các  tác phẩm văn học, có kĩ năng lập luận tốt mà còn đòi hỏi học sinh có những  cách cảm thụ riêng, suy nghĩ riêng độc đáo của mình về các vấn đề được đặt  ra trong tác phẩm. Đặc biệt với các dạng đề có các ý kiến, nhận định về tác  phẩm văn học, đòi hỏi học sinh phải có khả năng phản biện tốt, các em có  thể đồng tình hoặc phản đối, hoặc chỉ đồng tình một nửa, hoặc có thể bổ sung thêm ý nghĩa của tác phẩm theo cách cảm nhận, cách hiểu và lí giải của  riêng các em. Điều này là vô cùng quan trọng với các em học sinh giỏi văn  trong việc thể hiện được tư duy phản biện của mình.  

Có như vậy, các em mới có thể giải quyết tốt các đề mở về nghị luận văn  học với các dạng sau: 

* Nghị luận về tác phẩm thơ trữ tình 

Tác phẩm thơ là một hiện tượng thẩm mĩ độc đáo, được sáng tạo theo  quy luật riêng của tình cảm. Nó tiềm ẩn khả năng khơi gợi ở ở người đọc  những rung động sâu xa. Vì thế, nguyên tắc trước tiên đối với người tìm  hiểu, đánh giá tác phẩm văn học là phải đến với nó bằng tất cả tâm hồn, tình  cảm của mình. Để làm tốt bài nghị luận về tác phẩm thơ, càng cần nhấn  mạnh vai trò của tình cảm, của sự rung động nơi người viết. Người viết cần  thâm nhập, phân tích tác phẩm thơ bằng tất cả tâm hồn, tình cảm, cần sống  với không khí cảm xúc của bài thơ. Đồng thời trong quá trình nghị luận phải  đảm bảo tính chỉnh thể, toàn vẹn của tác phẩm. 

Tác phẩm văn học là một cơ thể sống, là một chỉnh thể toàn vẹn, trong  đó mỗi bộ phận chỉ là nó khi tồn tại, tương tác với các bộ phận, yếu tố khác.  Bên cạnh đó, học sinh khi làm bài nghị luận về tác phẩm thơ trữ tình cũng  cần bộc lộ được những cảm xúc, suy nghĩ riêng của mình, có những cách lí  giải độc đáo về các giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm thơ một cách hợp  lí, thuyết phục. Như vậy, tư duy phản biện cũng hết sức cần thiết để giúp các  em làm bài nghị luận về tác phẩm thơ trữ tình đạt hiệu quả hơn.  

Sau đây là một số đề cho thấy rõ nét điều đó: 

Đề bài 1: Bàn về hình tượng "em" trong bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh có ý kiến cho rằng: Bài thơ thể hiện vẻ đẹp truyền thống của  người phụ nữ trong tình yêu.  

Ý kiến khác lại cho rằng: Hình tượng em thể hiện vẻ đẹp hiện đại của  người phụ nữ đang yêu. 

Từ cảm nhận về hình tượng "em" trong bài thơ Sóng, anh/chị hãy bình luận về các ý kiến trên. 

Đề bài 2: Cùng tái hiện vẻ đẹp của những đoàn quân ra trận mỗi nhà thơ

lại có cách khám phá thể hiện riêng. Trong bài thơ Tây Tiến, Quang  Dũng viết: 

"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc 

Quân xanh màu lá dữ oai hùm 

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới 

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm". 

Trong bài thơ Việt Bắc, Tố Hữu viết: 

"Những đường Việt Bắc của ta 

Đêm đêm rầm rập như là đất rung 

Quân đi điệp điệp trùng trùng 

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan". 

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trên. 

Với hai đề bài nghị luận về tác phẩm thơ, đoạn trích thơ như trên, học  sinh ngoài việc có thể đồng ý với ý kiến đánh giá nêu trong đề, các em hoàn  toàn có thể đưa ra ý kiến phản biện nhằm bổ sung, hoàn thiện hơn cho giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm, đoạn trích thơ.  

Ở đề bài 1, các em có thể khẳng định tính đúng đắn của ý kiến đề cập tới  vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ trong tình yêu được thể hiện ở sự đằm  thắm, dịu dàng, hồn hậu, dễ thương, ở sự chung thủy, son sắt. Và ở ý kiến  khác là hình tượng em thể hiện vẻ đẹp hiện đại của người phụ nữ đang yêu.  Đó là người phụ nữ mạnh dạn, chủ động bày tỏ khao khát yêu thương mãnh  liệt, những rung động rạo rực của lòng mình. Người phụ nữ không nhẫn  nhục, cam chịu; không chấp nhận sự tầm thường, nhỏ hẹp mà luôn vươn tới  cái lớn lao có thể đồng cảm, đồng điệu với mình. Nét đẹp hiện đại táo bạo,  mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để đến với hạnh phúc .Khát vọng có  được một tình yêu vĩnh hằng, bất tử ; được sống trọn vẹn trong tình yêu.  

Đồng thời các em có thể phản biện đưa ra cách đáng giá đầy đủ, toàn  diện và sâu sắc hơn về giá trị bài thơ. Đó là nhân vật em vừa có nét dịu dàng,  đằm thắm, dễ thương của người phụ nữ truyền thống vừa mang lại vừa mang nét đẹp hiện đại đáng trân trọng của người phụ nữ đang yêu.  

Ở đề bài 2, sau khi phân tích làm rõ vẻ đẹp của từng đoàn quân ra trận trong hai đoạn thơ của hai bài thơ nổi tiếng của Quang Dũng và Tố Hữu, các  em có thể đưa ra thêm những ý kiến, đánh giá so sánh để thấy rõ nét điểm  giống và khác ở hai hình ảnh thơ của hai đoạn thơ này. Sự tương đồng đó là  cả hai bài thơ đều viết trong thời chống Pháp. Đều sử dụng bút pháp sử thi,  lãng mạn để miêu tả đoàn quân. Nhất là cảm hứng lãng mạn được hai nhà  thơ khai thác triệt để. Người lính trong thơ Quang Dũng có cái đẹp vừa bi  hùng, vừa hào hoa lãng mạn. Tố Hữu chủ yếu miêu tả cái đẹp toàn thể,  hướng tới số đông. Tầm vóc người lính thật lớn lao, vĩ đại. Cả hai đoạn thơ, 

hình ảnh người lính hiện lên thật đẹp, thật hào hùng. Và sự khác biệt tạo nên  nét riêng cho từng đoạn thơ. Quang Dũng viết bài thơ "Tây Tiến" trong  những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Do đó, hình ảnh người lính hiện  lên rất hiện thực với nhiều khó khăn gian khổ. Nhưng không vì thế mà mất  đi chất thép vốn có của người lính. Người lính trong bộ dạng dị thường mà  cũng rất đỗi mộng mơ đượm chất lính Hà Thành.  

Bài thơ "Việt Bắc" được Tố Hữu viết sau chiến thắng Điện Biên Phủ.  Hồn thơ Tố Hữu là hồn thơ trữ tình chính trị nên thiên về ngợi ca, biểu  dương nên hình ảnh thơ bay bổng, tự hào. Hình ảnh đoàn quân ra trận mang  tầm vóc lớn lao, kì vĩ. Tóm lại, cùng thể hiện hình ảnh những đoàn quân ra  trận nhưng cảm hứng từ hai nhà thơ rất khác nhau. Chính vì vậy mà hình  ảnh người lính thời chống Pháp hiện lên trong hai đoạn thơ vừa có điểm  chung vừa có điểm riêng biệt mang đến cho người đọc những ấn tượng khó  phai nhòa. 

* Nghị luận về tác phẩm văn xuôi tự sự 

Tự sự là phương thức tái hiện đời sống qua các sự kiện, biến cố và hành  vi con người trong toàn bộ tính khách quan của nó. Ở đây, tư tưởng và tình  cảm của nhà văn thâm nhập sâu sắc vào sự kiện và hành động của con người,  nhà văn kể lại, tả lại những gì xảy ra bên ngoài mình, khiến cho người đọc  có cảm giác rằng hiện thực được phản ánh trong tác phẩm là một thế giới tạo  hình xác định đang tự tồn tại, phát triển, không phụ thuộc vào tình cảm, ý  muốn của người viết. Để hiểu được nội dung phản ánh, để phân tích được  các giá trị về mặt tư tưởng lẫn nghệ thuật của một tác phẩm tự sự, cần tóm  tắt được chính xác cốt truyện, nắm chắc ý nghĩa tình huống truyện, đặc điểm  nổi bật về phẩm chất, tính cách của nhân vật...Như vậy, trước tiên để làm tốt  kiểu đề nghị luận về tác phẩm văn xuôi tự sự đòi hỏi học sinh cần có hiểu  biết đầy đủ, sâu sắc về tác phẩm, có kĩ năng lập luận tốt với các thao tác lập  luận như: Phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh...Tuy nhiên, để làm tốt  các đề mở hiện nay, tất cả những điều đó là chưa đủ, các em còn cần thiết  phải có tư duy phản biện ngay từ khi tiếp cận tác phẩm. Các e hoàn toàn có  thể đưa ra những cách lí giải khác nhau về nội dung tư tưởng của tác phẩm,  đó có thể là cách lí giải mới mẻ nhưng hợp lí, thuyết phục. Và khi tiếp cận  với các đề bài theo hướng mở, học sinh cũng rất nên mạnh dạn đưa ra các ý  kiến riêng, độc đáo, sâu sắc của mình.  

Thông qua một số đề bài sau có thể thấy rõ nét điều đó: 

Đề bài 1: Bàn về nghệ thuật xây dựng hai chân dung phụ nữ điển hình trong truyện “Vợ nhặt” (Kim Lân), có kiến cho rằng: Chị vợ nhặt được  khắc họa ở phương diện bên ngoài, còn bà cụ Tứ lại hiện lên qua những  khắc họa nội tâm bên trong. Ý kiến của bạn?

Đề bài 2: Cảm nhận của anh/chị về hình ảnh giọt nước mắt của nhân vật quản ngục sau khi Huấn Cao cho chữ trong truyện ngắn Chữ người tử tù  của Nguyễn Tuân và hình ảnh giọt nước mắt Chí Phèo sau khi thưởng  thức bát cháo hành của Thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam  Cao. 

Để làm tốt hai đề bài này, ngoài các yêu cầu cơ bản về kiến thức, kĩ năng, học sinh cũng có thể dùng kĩ năng tư duy phản biện để giải quyết vấn đề được toàn diện, sâu sắc hơn. Ở đề bài 1, đề bài này yêu cầu học sinh nghị luận về nghệ nghệ thuật xây dựng hình tượng hai người phụ nữ trong truyện  

“Vợ nhặt” (Kim Lân). "Chị vợ nhặt được khắc họa ở phương diện bên  ngoài" nghĩa là hình tượng được xây dựng qua diện mạo, lời nói, cử chỉ,  hành động. Còn "bà cụ Tứ lại hiện lên qua những khắc họa nội tâm bên trong" nghĩa là người mẹ hiện lên qua thế giới nội tâm bên trong với những  diễn biến tâm lý, tình cảm...Học sinh có thể phản biện bổ sung thêm cho ý  kiến của đề, đó là Chị vợ nhặt được khắc họa ở phương diện bên ngoài là  nhận xét đúng nhưng chưa đủ. Chưa đủ bởi, hình tượng người vợ nhặt còn  hiện lên qua những biểu hiện nội tâm khá tinh vi dưới ngòi bút của nhà văn.  Và hình tượng bà cụ Tứ cũng vậy, đúng nhưng chưa đủ bởi hình tượng 

người mẹ cũng được Kim Lân xây dựng thông qua phương diện bên ngoài,  ở những chi tiết vô cùng đắt giá. 

Như vậy, nếu đánh giá về nghệ thuật xây dựng hình tượng hai nhân vật phụ nữ tiêu biểu trong “Vợ nhặt”, mỗi hình tượng dù được xây dựng  nghiêng về phương diện bên ngoài (chị vợ nhặt) hay bên trong (bà cụ Tứ) thì  sự tham gia của các phương diện còn lại là không thể thiếu trong việc xây  dựng, hoàn thiện chân dung nhân vật. Bởi vì, không có thế giới bên trong  nào lại có thể hiện lên được nếu thiếu đi các yếu tố ngoại hiện; và không có  một yếu tố nào miêu tả cử chỉ hành động lời nói của nhân vật lại không có ít  nhiều ý nghĩa bộc lộ thế giới bên trong.  

Ở đề bài 2, học sinh có thể nêu cảm nhận của mình về giọt nước mắt của viên quản ngục và Chí Phèo. Hình ảnh nước mắt của quản ngục sau khi Huấn Cao cho chữ trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân là giọt nước mắt khóc vì tiếc một người tài cao, khí phách như Huấn Cao mà phải chịu án chém; khóc vì xúc động trước lời khuyên chân thành của Huấn Cao; khóc vì  ý thức của cá nhân, thức tỉnh lương tri của chính mình, nhận ra bản chất của  cái đẹp phải gắn liền với cái thiện chứ không phải gắn với cái ác, cái xấu.  

Giọt nước mắt cũng là kết thúc cuộc đời nhem nhuốc, nhơ bẩn bắt đầu  cuộc đời mới: nho nhã, thiên lương...Hình ảnh nước mắt của Chí Phèo lúc  thưởng thức bát cháo hành của Thị Nở trong Chí Phèo của Nam Cao. Chí đã  khóc vì xúc động trước tình cảm chân thành của Thị Nở. Giọt nước mắt của  Chí cũng là giọt nước mắt của sự thức tỉnh, ăn năn nhận ra bản chất cuộc đời

mình chỉ chìm ngập trong men rượu. Giọt nước mắt của Chí cũng là việc rũ  bỏ quá khứ tối tăm của mình đề hướng đến cuộc sống của con người nhất là  người lương thiện. Từ việc cảm nhận ý nghĩa của giọt nước mắt của hai  nhân vật, các em có thể có những đánh giá chung về nhân vật, về tác phẩm  và nhà văn. Đối với Nguyễn Tuân, thông điệp mà nhà văn gửi tới bạn đọc  chính là thiên chức của cái đẹp, cái đẹp thức tỉnh con người, cái đẹp cứu rỗi  thế giới.  

Với Nam Cao thì trong bất kì hoàn cảnh nào nhà văn cũng luôn đặt trọn  niềm tin vào con người. Từ việc vận dụng kĩ năng tư duy phản biện để giải  quyết các dạng đề văn nghị luận cụ thể sẽ giúp các em có thêm ý thức và rèn  luyện được tốt hơn kĩ năng tư duy phản biện trong quá trình làm văn.

Bình luận